Vận động học trong giải phẫu hệ cơ xương – Khớp hông phần 3

Vị thế đóng của khớp Hông

Duỗi hết tầm (nghĩa là 20 độ kể từ vị thế trung tính) làm xoắn hay ‘vặn” các dây chằng bao khớp đến vị thế căng thẳng nhất. Bồi thêm một ít xoay trong và dang hết tầm làm một số thành phần của của tất cả dây chằng bao khớp dài ra (H. 12-20). Sự kiện này hữu ích khi thử tạo kéo dãn tối đa cho các dây chằng bao khớp ở hông.

Hình 12-20

Hình 12-20

Hình 12-20 A, Khớp hông này ở vị thế trung tính, cả ba dây chằng đều được thể hiện. B, Khớp hông từ trên nhìn xuống ở vị thế đóng, nghĩa là, duỗi hết tầm hơi dang và xoay trong. Vị thế đó làm dài ít nhất một số thành phần trong cả ba dây chằng bao khớp.

Vì ở vị thế duỗi hoàn toàn, hơi xoay trong và dang làm dài hầu hết các dây chằng bao khớp, nên nó được coi là vị thế đóng của khớp hông. Sức căng thụ động gia tăng được kích hoạt bằng các dây chằng bao khớp bị kéo dãn giúp tạo sự vững chắc cho khớp và làm giảm động tác thụ động phụ thêm hay ‘sự xoay chuyển khớp’. Thú vị ở chỗ, hông là khớp duy nhất trong vị thế đóng này không có liên quan đến vị thế tương thích tối đa của nó. Các mặt khớp tương thích nhiều nhất ở 90 độ gập, dang vừa và xoay ngoài. Trong vị thế này, đa số dây chằng bao khớp có liên quan ‘tách ra’ ở vào tình trạng lỏng lẻo hơn, tạo thêm chỉ một ít sự căng thụ động lên khớp.

Vận động học của xương khớp

Phần này mô tả tầm độ vận động được phép ở khớp hông, bao gồm những nhân tố cho phép và hạn chế tầm độ này. Tầm độ khớp hông bị hạn chế có thể là một dấu chỉ giai đoạn sớm của bệnh ở khớp hông hoặc sang chấn. Nó thường liên quan đến đau đớn, yếu cơ, hoặc sang chấn vào khớp và xương. Tầm độ hạn chế ở hông có thể tạo những hạn chế nghiêm trọng về chức năng khi đi hoặc khi buộc dây giày.

Hai thuật ngữ mô tả tầm độ vận động khớp: Vận động học xương khớp của đùi-trên-chậu mô tả sự xoay xương đùi quanh một khung chậu tương đối cố định. Vận động học xương khớp của chậu-trên-đùi, ngược lại, mô tả sự xoay của khung chậu và thường là phần thân chồng lên trên, lên một xương đùi khá cố định. Cho dù xương đùi hay xương chậu được coi là phân đoạn di chuyển, thì vận động học xương khớp được mô tả trong vị thế giải phẫu.

Việc mô tả tầm độ khớp hông dùng vị thế giải phẫu ở điểm tham chiếu 0 độ trung tính. Ở mặt phẳng đứng dọc, ví dụ, cử động gập của đùi-trên-chậu được mô tả bằng vị thế ở phía trước 0 độ của xương đùi. Thuật ngữ duỗi quá không được dùng để mô tả tầm độ bình thường của khớp hông.

Như đã thể hiện ở hình 12-22, mỗi mặt phẳng của động tác có liên quan với một trục xoay duy nhất. Trục xoay trong và ngoài thường được coi là trục thẳng đứng. Trục xoay thẳng đứng cũng được gọi là trục thẳng đứng. Tuy nhiên trục thẳng đứng giả định là đối tượng đang đứng với hông ở vị thế giải phẫu. Trục này kéo thành đường thẳng từ tâm đầu xương đùi đến tâm khớp gối. Vì góc nghiêng của đầu gần xương đùi và sự khuỵu ra trước của thân xương đùi, nên hầu hết các trục  xoay thẳng đứng nằm ngoài bản thân xương đùi (xem H. 12-22 A và B). Vị trí ngoài thân xương của trục này có một số liên quan khi tìm hiểu một số hoạt động của các cơ bắp, là một đề tài sẽ được thảo luận sau đây trong chương này.

Hình 12-22A

Hình 12-22A

Hình 12-22B

Hình 12-22B

Hình 12-22 C

Hình 12-22 C

Hình 12-22 Vận động học xương khớp hông phải. Xoay đùi-trên-chậu và chậu-trên-đùi xảy ra trong ba mặt phẳng, mô tả bằng mũi tên đỏ. Trục xoay cho mỗi động tác trong mặt phẳng được thể hiện bằng các chấm đỏ, ở vị trí trung tâm của đầu xương đùi. Hình A, nhìn nghiêng thể hiện các cử động xoay trong mặt phẳng đứng dọc quanh trục ngang. Hình B, Nhìn từ phía trước cho thấy các cử động xoay trong mặt phẳng trán quanh trục trước sau. Hình C nhìn từ trên xuống thể hiện các cử động xoay trong mặt phẳng nằm ngang quanh trục xoay thẳng đứng.

Trừ phi được nói cụ thể, thì các thảo luận sau đây về vận động học xương khớp bao gồm tầm độ vận động thụ động của khớp hông. Các mô liên kết và các cơ hạn chế cử động cũng được mô tả (xem bảng 12-1). Các cơ được dùng để tạo và kiểm soát cử động khớp hông sẽ được thảo luận sau trong chương này. Mặc dù các động tác đùi-trên-chậu và chậu-trên-đùi thường xảy ra đồng thời, nhưng ở đây sẽ trình bày tách ra.

Bảng 12-1 Các mô dây chằng và cơ hạn chế các động tác quá mức của khớp hông

Động tác của hông Độ lớn của động tác ở hông Các ví dụ mô có thể hạn chế các thái cực của động tác
Gập 80 độ (với gối duỗi) Cơ hamstring và cơ thon
120 độ (với gối gập hoàn toàn) Các sợi phía dưới của dây chằng ngồi đùiBao khớp dưới
Duỗi 20 độ duỗi (với gối duỗi)* Phần lớn là dây chằng chậu đùi và bao khớp trước; một số thành phần của dây chằng mu đùi và ngồi đùi.
Dang 40 độ Dây chằng mu đùi, bao khớp dưới, các cơ khép và các cơ hamstring
Khép 25 độ Các sợi phía trên dây chằng ngồi đùi, dải chậu chày, và các cơ dang thí dụ như cơ căng mạc đùi.
Xoay trong 35 độ Dây chằng ngồi đùi, các cơ xoay ngoài (thí dụ, cơ hình lê)
Xoay ngoài 45 độ Bó ngoài của dây chằng chậu đùi, dải chậu chày, và các cơ xoay trong (thí dụ, cơ mông bé, cơ căng mạc đùi)

(xem tiếp: Vận động học xương khớp – Khớp hông phần 3)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Giải phẫu, Kỹ thuật hình ảnh, Sinh cơ học and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s