Vận động học trong giải phẫu hệ cơ xương – Khớp hông phần 2

SỰ THẲNG TRỤC Ổ CỐI

Trong vị thế giải phẫu, ổ cối trồi sang bên từ khung chậu với nhiều mức độ nghiêng xuống dưới và ra trước. Loạn sản ổ cối mô tả một tình trạng bệnh bẩm sinh hoặc mắc phải trong đó ổ cối bị định dạng bất thường và kém thẳng trục. Một ổ cối lệch trục không bao bọc được đầu xương đùi tốt, thì thường gây trật khớp mãn tính và viêm xương khớp. Hai góc độ mô tả mức mà ổ cối lẽ ra phải bao phủ đầu xương đùi là: góc tâm-gờ và góc xoay trước ổ cối

Góc tâm-vành

Góc tâm-vành (cũng được gọi là góc Wiberg) mô tả mức độ ổ cối bao bọc đầu xương đùi trong mặt phẳng trán. (H. 12-16A). Góc tâm-vành dao động nhiều nhưng tính trung bình đo được khoảng 35 đến 40 độ trên phim x quang người lớn. Góc tâm-vành bình thường tạo một ngăn bảo vệ bọc đầu xương đùi. Một sự thẳng trục nhọn hơn (nghĩa là góc nhỏ hơn) thì tạo ít chỗ chứa đầu xương đùi hơn và có liên quan đến nguy cơ gia tăng trật khớp.

Góc xoay trước ổ cối

Góc xoay trước ổ cối mô tả phạm vi ổ cối bao bọc đầu xương đùi trong mặt phẳng nằm ngang. Một góc xoay trước ổ cối bình thường khoảng 20 độ làm lộ phần trước của đầu xương đùi (H. 12-16B). Dây chằng dày phía trước hông và gân cơ thắt lưng chậu bao bọc mặt này của hông. Những người có góc xoay trước quá mức  ở cả xương đùi và ổ cối dễ bị trật khớp ra trước, đặc biệt là khi xoay ngoài quá mức.

Hình 12-6 A và B

Hình 12-6 A và B

Hình 12-16 Hai góc mô tả phạm vi bình thường ổ cối bao bọc đầu xương đùi. A, góc tâm vành cho thấy độ bao phủ của ổ cối lên đầu xương đùi trong mặt phẳng trán. Góc này được tạo thành bởi sự giao nhau của đường tham chiếu (nét đứt) và đường nối từ gờ trên của ổ cối đến tâm đầu xương đùi. Góc nghiêng bình thường 125 độ của đầu gần xương đùi cũng được thể hiện. B, góc xoay trước ổ cối mô tả phạm vi ổ cối bao bọc đầu xương đùi trong mặt phẳng ngang. Đo được từ bên trên, góc này bình thường ra là 20 độ. Như ta thấy, góc này được tạo thành với sự giao nhau của đường tham chiếu trước sau (nét đứt) và đường trần ổ cối. Đầu gần xương đùi xoay trước một góc 15 độ là bình thường, như đã thể hiện.

Đặc biệt chú ý 12-1

Sự xoay trước tự nhiên của xương đùi: Nhìn lại sự phát triển chung trước khi sinh của chi dưới

Trong suốt giai đoạn phát triển trước khi sinh, chi trên và dưới đều trải qua sự xoay trục đáng kể (H. 12-11). Vào khoảng ngày 54 sau khi thụ thai, chi dưới xoay trong khoảng 90 độ. Sự xoay này mang vùng đầu gối về vùng vị trí phía trước cuối cùng của nó. Về bản chất, chi dưới trở nên ‘quay sấp’ vĩnh viễn. Điều này giúp giải thích tại sao những cơ ‘duỗi’ – như cơ tứ đầu và chày trước – hướng ra trước, và các cơ ‘gập’ – như cơ hamstrings và sinh đôi – lại hướng ra sau sau khi sinh

Hình 12-11

Hình 12-11

Hình 12-11 Sự xoay theo hình thái núm chi dưới trong suốt giai đoạn phát triển trước khi sinh. A, Tại thời điểm khoảng ngày 48 , chân duỗi ra trước và bàn tay, bàn chân và mặt quay vào nhau. B. Tại thời điểm khoảng ngày 51, khuỷu tay gập, bàn tay ôm vòng quanh ngực. C, Tại thời điểm khoảng 54 ngày, lòng bàn chân đối diện nhau. D, Vào khoảng ngày 54,  toàn bộ các núm chi dưới ‘xoay trong’ khoảng 90 độ. Tại giai đoạn phát triển này, khuỷu tay hướng xuống dưới và đầu gối hướng lên trên

Góc xoay cuối cùng  giữa thân và cổ xương đùi phản ánh mức độ của sự xoay trong này.

Kết quả chức năng của sự xoay trong chi dưới này là mặt lòng bàn chân có được vị thế trung tính và quay sấp phù hợp cho việc đi lại. Vị thế quay sấp này thấy rõ qua vị thế nằm bên trong của ngón chân cái, tương tự như thế đối với ngón tay cái khi cẳng tay hoàn toàn quay sấp. Những đặc điểm giải phẫu khác như tính chéo của da chi dưới và dây chằng bị xoắn ở hông (xem hình 12-17 và 12-18) phản ánh sự xoay trong do phát triển của chi dưới.

BAO KHỚP VÀ DÂY CHẰNG KHỚP HÔNG

Một lớp màng hoạt dịch lót mặt trong của bao khớp hông. Mặt ngoài của bao khớp được củng cố bằng các dây chằng chậu đùi, mu đùi và ngồi đùi (H. 12-17 và 12-18). Sức căng thụ động của các dây chằng này và những cơ xung quanh hạn chế sự quá mức của tất cả các động tác của khớp hông. (Bảng 12-1). Cả ba dây chằng này ít ra là có phần căng ra khi duỗi hông hoàn toàn.

Hình 12-17

Hình 12-17

Hình 12-17 Bao khớp trước và các dây chằng cùa hông phải. Cơ thắt lưng chậu được cắt để bộc lộ mặt trước của khớp. Lưu ý rằng phần đầu xương đùi trồi ra ngay phía trong của dây chằng chậu đùi. Vùng này bình thường được bao khớp che phủ.

Hình 12-18

Hình 12-18

Hình 12-18 Bao khớp sau và các dây chằng hông bên phải.

Dây chằng chậu đùi (hay dây chằng chữ Y) là một mảng mô liên kết, rất dày và khỏe, giống như một chữ Y đặt ngược. Ở đầu gần, dây chằng chậu đùi gắn vào gần với gai chậu trước trên và dọc theo gần vành ổ cối. Các sợi hình thành bó trong và bó ngoài phân biệt, mỗi bó gắn vào từng đầu của đường gian mấu xương đùi. Cử động duỗi hông hết tầm làm dãn dây chằng chậu đùi và bao khớp trước. Xoay ngoài hết tầm kéo dài bó ngoài của dây chằng chậu đùi.

Dây chằng chậu đùi là một trong những dây chằng dày nhất do đó khỏe nhất của cơ thể. Khi một người đứng hông duỗi hết tầm, thì mặt trước của đầu xương đùi tựa vào dây chằng chậu đùi. Lực căng thụ động ở dây chằng này tạo thành một lực ổn định quan trọng kháng lại sự duỗi thêm khung chậu khi tựa trên xương đùi. Những người bệnh liệt hạ chi thường dùng lực căng thụ động này của dây chằng dài (hay bè) chậu đùi để hỗ trợ khi đứng (Hình 12-19).

Hình 12-19

Hình 12-19

Hình 12-19 Một người bị liệt hạ chi thể hiện dáng đứng có trợ giúp của nẹp ở gối và cổ chân. Ưỡn khung chậu và thân ra sau so với khớp hông, làm dãn dây chằng chậu đùi. Sự dãn này tạo một mô men xoắn cho cơ gập thụ động khớp hông, vốn hỗ trợ sự vững chắc khung chậu và thân khi đứng.

Mặc dù mỏng và tròn hơn các sợi của dây chằng chậu đùi, dây chằng mu đùi và ngồi đùi hòa nhập với và làm mạnh thêm mặt trước và sau của bao khớp. Dây chằng mu đùi bám dọc theo vành trước và dưới của ổ cối và các vùng lân cận của ngành trên xương mu và màng bịt (xem H. 12-17). Các sợi này hòa trộn với các bó trong của dây chằng chậu đùi, trở nên bè ra khi dang hông và duỗi hết mức.

Dây chằng ngồi đùi bám từ mặt sau và dưới ổ cối , nguyên ủy là từ xương ngồi ở gần đó (xem 12-18). Các sợi từ các sợi dây chằng tròn của khớp này ở sâu hơn trong bao khớp. Những sợi ở nông hơn đi cuộn lên trên và ra ngoài dọc theo phía sau của cổ xương đùi rồi bám vào gần đỉnh mấu chuyển lớn (xem H. 12-17). Những sợi ở mặt trên lớp nông trở nên to bè khi xoay trong và duỗi hết tầm; các sợi phía trên của dây chằng ngồi đùi trở nên to bè khi áp; và các sợi bên dưới và một phần các sợi gần dưới bao khớp trở nên to bè khi gập hông.

Cùng với ba dây chằng chính đó, bao khớp gồm dày đặc các sợi đi theo hình tròn và dọc. Những sợi này được các dây chằng lớp nông hơn che phủ. Các sợi đi dọc là trải rộng nhất ở bao khớp trước, đi sâu xuống và được gắn vào dây chằng chậu đùi.

Các sợi đi theo hình tròn – còn được gọi là cơ vòng tròn của bao khớp (zona orbicularis) – ở nhiều vị trí hơn trong lớp trong của bao khớp, tạo thành một vòng xung quanh gốc của cổ xương đùi.

“Loạn sản khớp hông do rối loạn phát triển”: Một trường hợp lệch trục ổ cối.

Loạn sản khớp hông do rối loạn phát triển (DDH) là một bệnh tuổi nhi đồng thường gồm sự hình thành bất thường (loạn sản) của khớp hông. Nguyên nhân gây DDH chưa hoàn toàn rõ ràng, nhưng các stress bất thường thuộc thể chất đặt lên khớp hông – trong tử cung hoặc khi mới sinh – có thể ngăn cản sự hình thành khớp hông và sự thẳng trục.

DDH thường có liên quan với ổ cối cạn và lệch trục (nghĩa là , góc tâm-vành nhỏ). Do đó, đầu xương đùi được phép “bập bềnh”, luôn luôn là lên trên và ra sau ổ cối. Mất điểm tựa vững chắc cho cử động khớp hông có thể thay đổi mô men các cánh tay đòn và các độ dài hoạt động của các cơ khớp hông, do đó tạo ra sự yếu cơ chức năng của khớp.

Một trẻ sinh ra bị bại não đặc biệt có khả năng bị DDH. Loạn sản khớp háng thường là hậu quả của sự ‘mất cân bằng’ cơ bắp, tiếp tục có các phản xạ sơ khai, và vắng mặt kích thích chịu sức trên xương. Các biến dạng của khớp hông, thí dụ như hông vẹo ngoài và sự xoay trước quá mức của xương đùi và ổ cối, thường có liên quan đến DDH.

Việc điều trị DDH phụ thuộc vào tuổi và bệnh lý bên dưới. Ở trẻ mới sinh, việc mang nẹp hay nẹp hàng loạt khớp hông trong vị thế dang thường được thực hiện để cố gắng ‘đặt’ đầu xương đùi trực tiếp vào ổ cối. Lâu dần, vị thế này có thể kích thích sự hình thành hình dáng bình thường hơn của khớp. Ở trẻ lớn hơn, thường được chỉ định phẫu thuật. Thủ thuật đục xương chỉnh thẳng lại khung chậu và/hoặc đầu gần xương đùi được thực hiện để cải thiện sự vững chắc và gia tăng diện tích cho việc chịu sức.

(xem tiếp: Vận động học trong giải phẫu hệ cơ xương – Khớp hông, phần 3)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Giải phẫu, Kỹ thuật hình ảnh, Sinh cơ học and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s