Hệ bạch huyết

Hệ bạch huyết bao gồm bạch huyết, mạch bạch huyết, mô bạch huyết, hạt/mấu bạch huyết, hạch bạch huyết, hạch họng, lá lách, và tuyến ức (hình 1)

Hình 22.1 Hệ bạch huyết

Hình 1 Hệ bạch huyết

Chức năng của Hệ Bạch huyết

Sau đây là ba chức năng chính của hệ bạch huyết:
1. Cân bằng thể dịch. Khoảng 30L dịch đi từ các mao mạch máu vào dịch kẽ mỗi ngày, trong khi đó chỉ có 27L đi từ dịch kẽ ngược vào mao mạch máu. Nếu phần 3L dôi ra vẫn ở trong dịch kẽ, thì sẽ gây phù, khiến tổn thương mô và cuối cùng là tử vong. Thay vào đó, 3L dịch này đi vào các mao mạch bạch huyết, khi đó, dịch trong các mao mạch này được gọi là bạch huyết (limf; clear spring water), và đi qua mạch bạch huyết trở về máu. Cùng với nước, bạch huyết chứa các chất tan lấy từ hai nguồn: (1) Các chất trong huyết tương, như các ion, các chất dinh dưỡng, các khí, và một số protein, đi từ mao mạch máu vào dịch kẽ và trở thành thành phần của bạch huyết và (2) các chất lấy từ các tế bào như các hormone, các enzym và các chất thải, cũng được tìm thấy trong bạch huyết.
2. Hấp thu chất béo. Hệ bạch huyết hấp thụ các chất béo và các chất khác từ đường tiêu hóa.
Các bạch mạch này gọi là các mạch nhũ trấp (đọc: lak te al) nằm ở lớp lót ruột non. Mỡ đi vào các mạch nhũ trấp và đi qua các bạch mạch vào vòng tuần hoàn tĩnh mạch. Bạch huyết đi qua các bạch mạch này , gọi là dưỡng trấp (đọc:kil), có dạng sữa vì có chứa mỡ.
3. Bảo vệ. Các vi thể và các dị vật được lọc khỏi bạch huyết bởi các hạch bạch huyết và khỏi máu bởi lá lách. Thêm nữa, các tế bào bạch huyết và các tế bào khác có khả năng tiêu hủy các vi thể và các dị vật này.
1 Liệt kê các bộ phận của hệ bạch huyết, và mô tả ba chức năng chính của hệ bạch huyết?
Các Bạch Mạch
Các bạch mạch là thiết yếu cho việc duy trì cân bằng thể dịch. Các mạch này là các ống nhỏ, bít một đầu gọi là các mao mạch bạch huyết (hình 2a). Các thể dịch có khuynh hướng chảy ra khỏi các mao mạch máu đổ vào các khoang mô (xem chương 21, “Trao đổi ở mao mạch và Điều hòa thể tích Dịch kẽ). Dịch dôi ra đi qua các khoang mô và vào các mao mạch bạch huyết để trở thành bạch huyết. Các mao mạch bạch huyết có ở hầu khắp các mô trong cơ thể. Ngoại trừ ở thần kinh trung ương, tủy xương và các mô không có tưới máu, như sụn, biểu bì và giác mạc. Một nhóm mao mạch bạch huyết nông nằm ở phần dưới da và hạ bì. Một nhóm mao mạch bạch huyết sâu dẫn lưu cho các cơ, khớp, phủ tạng và các cấu trúc nằm trong sâu.

Hình 22.2 Sự hình thành và chuyển dịch của bạch huyết

Hình 2a Sự hình thành và chuyển dịch của bạch huyết

(a)  Sự di chuyển thể dịch từ mao mạch máu vào mô và từ mô vào mao mạch bạch huyết để tạo thành bạch huyết. (b) Sự chồng lắp lên nhau các tế bào biểu mô của mao mạch bạch huyết cho phép dịch đi vào dễ nhưng ngăn không cho đi ngược trở ra mô. Các van nằm xa hơn dọc theo mạch bạch huyết, cũng đảm bảo cho dòng chảy một chiều của bạch huyết.

Các mao mạch bạch huyết khác với các mao mạch máu ở chỗ chúng không có lớp màng nền và các tế bào biểu mô đơn giản có hình vảy hơi chồng lên nhau và tế bào này đính vào tế bào kia một cách lỏng lẻo (hình 2b). Theo cấu trúc này thì có hai điều xảy ra. Thứ nhất, mao mạch bạch huyết có tính thấm hơn rất nhiều so với mao mạch máu, và không có cái gì ở dịch kẽ lại không có ở các mao mạch bạch huyết. Thứ hai, biểu mô ở mao mạch bạch huyết hoạt động như một loạt van mở theo một hướng cho phép thể dịch vào được mao mạch bạch huyết mà không cho trôi ngược trở ra khoang dịch kẽ.

Các mao mạch bạch huyết nối lại với nhau để hình thành một mạng mạch bạch huyết lớn hơn giống như các tĩnh mạch nhỏ. Lớp trong của mạch bạch huyết gồm màng trong (endothelium) bao bọc bởi một màng co dãn được, lớp giữa gồm các tế bào cơ trơn và các sợi co dãn được, lớp ngoài cùng là một lớp mô liên kết mỏng.

Các mạch bạch huyết nhỏ có dạng hình hạt vì dọc theo chiều dài của mạch có mặt các van một chiều giống như van tĩnh mạch (xem hình 22.2b). Khi một mạch bạch huyết bị đè ép, thì sự chảy ngược bạch huyết bị các van cản lại; do đó, trong các mạch bạch huyết, bạch huyết luôn chảy về phía trước.

Ba cơ chế chính chịu trách nhiệm cho chuyển dịch của bạch huyết trong mạch:

  1. Sự co mạch bạch huyết. Ở nhiều bộ phận của cơ thể, mạch bạch huyết bơm bạch huyết đi. Các van một chiều chiều chia các mạch bạch huyết ra thành các hốc, hoạt động như “các quả tim sơ khai”. Bạch huyết di chuyển vào hốc, các cơ trơn ở thành hốc co, và bạch huyết chảy đến hốc kế tiếp. Một số tế bào cơ trơn ở thành mạch bạch huyết là các tế bào tạo nhịp (xem chương 21 “Các tính chất điện của cơ trơn”).

Các tế bào tạo nhịp tự động khử cực, gây sự co cơ theo chu kỳ của các mạch bạch huyết.

  1. Sự co của cơ xương. Khi tế bào cơ xung quanh co, mạch bạch huyết bị đè ép, làm cho bạch huyết chuyển động.
  2. Các thay đổi áp lực lồng ngực. Trong quá trình hít vào, áp lực ở khoang lồng ngực giảm, các mạch bạch huyết mở rộng và bạch huyết chảy vào đó. Khi thở ra, áp lực khoang lồng ngực tăng, mạch bạch huyết bị đè ép, làm bạch huyết chảy đi.

Các hạch bạch huyết tròn, bầu dục hoặc hình hạt đậu phân bố dọc theo nhiều mạch bạch huyết (xem tr.787 “Các hạch bạch huyết”). Trong các hạch có bạch huyết, bạch huyết vào và ra khỏi hạch thông qua các mạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết nối với nhau thành từng chuỗi, nên bạch huyết ra khỏi hạch này sẽ được chuyển đến hạch khác và cứ tiếp tục thế.

Sau khi đi qua các hạch bạch huyết, các mạch bạch huyết hội tụ lại để tạo thành các mạch lớn hơn gọi là các vòi bạch huyết, mỗi vòi dẫn lưu cho một phần chủ yếu của cơ thể (hình 22.3a và b). Vòi tĩnh mạch cảnh dẫn lưu cho đầu và cổ; vòi dưới đòn dẫn lưu cho chi trên, phần nông thành ngực, và tuyến vú, vòi phế trung thất dẫn lưu cho các cơ quan trong lồng ngực và sâu trong thành ngực; vòi ruột dẫn lưu cho các cơ quan trong bụng, như ruột non, dạ dày, tuyến tụy, lá lách và gan; và vòi thắt lưng dẫn lưu cho chi dưới,  chậu và thành bụng, các cơ quan trong chậu, buồng trứng, tinh hoàn, thận và tuyến thượng thận.

Hình 22.3 a

Hình 22.3 a

Hình 23.b và c

Hình 23.b và c

Các vòi bạch huyết nối với các tĩnh mạch lớn ở lồng ngực hoặc nối với các mạch hơi lớn hơn gọi là ống bạch huyết, rồi các ống này nối với các tĩnh mạch lớn. Sự kết nối giữa các vòi và ống bạch huyết vào các tĩnh mạch khá biến thiên. Nhiều mối nối ở ngã ba của tĩnh mạch cảnh trong và dưới đòn, nhưng cũng tồn tại các mối nối ở tĩnh mạch dưới đòn, cảnh, và có cả ở tĩnh mạch cánh tay đầu nữa.

Ở bên phải, các vòi cảnh, dưới đòn và phế trung thất thường nhập riêng lẻ vào một tĩnh mạch ngực (xem hình 22.3b). Ở khoảng 20% người, ba vòi này nhập lại với nhau tạo thành một ống ngắn dài 1cm gọi là ống bạch huyết ngực phải (xem hình 22.1), rồi nhập với tĩnh mạch ngực phải. Các vòi này dẫn lưu cho đầu phải, tay phải và lồng ngực phải (hình 22.3c)

Ống ngực (xem hình 22.3a và b) dẫn lưu bạch huyết từ phần dưới bên phải thân qua ngực vào toàn bộ phần bên trái thân (xem hình 22.3c). Ống ngực là mạch bạch huyết lớn nhất. Nó dài khoảng 38-45cm, kéo dài từ đốt sống ngực thứ 12 đến nền cổ (xem hình 22.3c). Các vòi cảnh và vòi dưới đòn nhập vào ống ngực. Vòi phế trung thất đôi khi nối với ống ngực nhưng thường là nối với một tĩnh mạch. Vòi ruột và vòi thắt lưng, hai vòi dẫn lưu bạch huyết từ phần dưới đến cơ hoành, thì dẫn đến đầu dưới của ống ngực. Các vòi này có thể trực tiếp nối với ống ngực hoặc hòa vào nhau để tạo thành một mạng lưới nối với ống ngực. Ở một số ít trường hợp, các vòi bạch huyết hình thành một túi gọi là túi nhũ trấp (cisterna chyli; a cistern or tank that contains juice).

Tóm lại, bạch huyết đi vào mao mạch bạch huyết, rồi tụ lại để tạo thành các mạch bạch huyết lớn hơn. Bạch huyết đi qua các mạch rồi hạch bạch huyết có liên quan rồi đổ vào đó. Các mạch bạch huyết tụ vào tạo thành vòi bạch huyết lớn hơn, dẫn lưu cho các vùng chính của cơ thể. Các vòi bạch huyết trực tiếp trút hết vào tĩnh mạch ngực hoặc liên kết lại để tạo thành các ống bạch huyết lớn hơn rồi đổ vào tĩnh mạch ngực.

Sự di căn của tế bào ung thưCác tế bào ung thư có thể tách ra khỏi khối bướu và di căn, hoặc lan rộng, ra các phần khác của cơ thể bằng cách đi vào các mạch bạch huyết, các mao mạch máu, hoặc các xoang của cơ thể. Các tế bào ung thư đi vào hệ bạch huyết cuối cùng vào máu, máu mang các tế bào này đến các bộ phận khác của cơ thể. Tế bào ung thư có thể kích thích sự mọc mới các mạch bạch huyết vào trong khối bướu. Đối với nhiều loại ung thư, mạch trong một khối bướu nhiều có liên quan đến nguy cơ lan tỏa ung thư cao. Xác định các yếu tố tăng sinh mạch bạch huyết và các receptor của chúng có thể là đích nhắm mới của việc bào chế thuốc để giúp ngăn sự lan tỏa của tế bào ung thư. 

2. Bạch huyết hình thành như thế nào?

3. Mô tả cấu trúc mao mạch bạch huyết. Tại sao nói dịch và các chất khác dễ đi vào mao mạch bạch huyết?

4. Chức năng của các van trong mạch bạch huyết là gì? Kể tên ba cơ chế chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của bạch huyết qua các mạch bạch huyết.

5. Vòi và ống bạch huyết là gì? Kể tên mạch bạch huyết lớn nhất. Nhũ trấp là gì?

6. Các vòi bạch huyết phải dẫn lưu cho các vùng nào của cơ thể? Các vòi bạch huyết trái và ống ngực?

Mô bạch huyết và các cơ quan

Các cơ quan bạch huyết có mô bạch huyết, gồm các tế bào bạch huyết chưa biệt hóa, nhưng nó cũng gồm các đại thực bào, các tế bào dendritic (nhánh,đuôi gai), tế bào lưới, và các loại tế bào khác. Tế bào bạch huyết là một loại tế bào máu trắng (xem chương 19). Có hai loại tế bào bạch huyết là tế bào B và tế bào T. Chúng xuất xứ từ tủy đỏ xương và được máu đưa vào các cơ quan bạch huyết và các mô khác. Khi cơ thể bị phơi nhiễm các vi thể hoặc các dị vật, thì các tế bào bạch huyết phân chia, gia tăng lên về số lượng và là một bộ phận của phản ứng miễn dịch, tiêu hủy các vi thể và dị vật đó. Mô bạch huyết cũng có những sợi collagen rất tinh tế, gọi là các sợi lưới, do các tế bào lưới sinh ra. Các tế bào bạch huyết và các tế bào khác đính vào các sợi này. Khi bạch huyết hoặc máu đổ vào các cơ quan bạch huyết, các mạng sợi này bẫy lưới các vi thể và các hạt khác nằm trong dịch.

Mô bạch huyết được bao bọc bởi một bao mô liên kết được gọi là được bọc vỏ, trong khi các mô không có bọc gọi là không được bọc vỏ. Các cơ quan bạch huyết có vỏ gồm hạch bạch huyết, lá lách, và tuyến ức. Các mô nhầy bạch huyết (MALT) gồm các sự kết tập của các mô bạch huyết không vỏ được phát hiện thấy ở bên dưới lớp lót màng nhầy của đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu và sinh dục. Ở những chỗ này, mô bạch huyết ở vào vị trí rất tốt để chặn các vi thể khi chúng xâm nhập cơ thể. Ví dụ về MALT là mô bạch huyết khuyếch tán, hạch bạch huyết và hạch họng.

Mô bạch huyết khuyếch tán và các Hạch bạch huyết

Mô bạch huyết khuyếch tán gồm các tế bào bạch huyết rải rác, các đại thực bào và các tế bào khác; nó không có ranh giới rõ ràng; và hòa trộn với các mô xung quanh (hình 22.4). Nó nằm sâu trong lớp màng nhầy, quanh các hạt bạch huyết, và nằm trong hạch bạch huyết và lá lách.

Các hạt bạch huyết là các tập hợp dày đặc hơn các mô bạch huyết được sắp xếp vào các cấu trúc cô đặc như hình cầu, kích cỡ đường kính từ vài trăm micrô mét đến vài millimet hay hơn (xem hình 22.4). Các hạt bạch huyết có nhiều mô liên kết lỏng của hệ tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu và sinh dục. Mảng Peyer là sự kết tập của các hạt bạch huyết thấy được trong nửa đầu xa của ruột non và ruột thừa. Cùng với MALT, các hạt bạch huyết cũng thấy được ở trong hạch bạch huyết và lá lách, nơi chúng thường được gọi là các nang bạch huyết.

Hình 22.4

Hình 22.4

Mô bạch huyết khuyếch tán và Hạt bạch huyết

Hạch họng

Hạch họng là các nhóm hạt bạch huyết lớn và mô bạch huyết khuyếch tán nằm sâu trong màng nhầy phía trong hầu họng (cổ họng; hình 22.5)

Hình 22.5 Hạch họng Mặt trước của khoang miệng cho thấy các hạch họng. Các phần của vòm miệng được cắt đi (các đường đứt) để bộc lộ hạch hầu

Hình 22.5 Hạch họng
Mặt trước của khoang miệng cho thấy các hạch họng. Các phần của vòm miệng được cắt đi (các đường đứt) để bộc lộ hạch hầu

Mô bạch huyết khuyếch tán vây quanh một hạt bạch huyết trong ruột non. Hạch họng cho sự bảo vệ chống lại vi khuẩn và các chất có thể gây hại đi vào hầu từ xoang mũi hay miệng. Ở người lớn, hạch họng nhỏ đi và cuối cùng có thể biến mất.

Có ba nhóm hạch họng, nhưng các hạch vòm miệng luôn được gọi là ‘hạch họng’.  Hạch này khá lớn, là hai khối bạch huyết hình bầu dục ở hai bên chỗ ngã ba giữa khoang miệng và hầu. Hạch hầu, là một tập hợp gần giống như sự kết tập của các hạt bạch huyết gần ngã ba giữa xoang mũi và hầu. Khi hạch hầu to ra, thường bị liên hệ đến bệnh V.A (adenoid hoặc adenoids). Hạch hầu sưng to có thể cản trở việc thở bình thường. Hạch hạnh nhân lưỡi là một tập hợp lỏng lẻo các hạt bạch huyết ở bề mặt sau của lưỡi.

Đôi khi hạch vòm miệng và hạch hầu bị viêm mãn tính và phải được nạo đi. Hạch hạnh nhân lưỡi ít bị viêm hơn các hạch khác và khó nạo bỏ được hơn.

7. Đâu là các chức năng của các tế bào bạch huyết và các sợi lưới trong mô bạch huyết?

8.Các mô nhầy bạch huyết(MALT) là gì? Vị trí như thế nào khiến MALT có ích?

9.Định nghĩa mô bạch huyết, hạt bạch huyết, các mảng Peyer và nang bạch huyết.

10. Mô tả cấu trúc, chức năng, và vị trí của các hạch họng.

Các hạch bạch huyết            

Các hạch bạch huyết nhỏ, tròn, cấu trúc hình hạt đậu, kích cỡ đa dạng dài từ 1-25mm. Chúng phân bố dọc theo đường đi của mạch bạch huyết (xem hình 22.1; hình 22.6). Trong hạch có chứa bạch huyết, các vi khuẩn và các chất thải ra. Thêm vào đó, các tế bào bạch huyết tụ tập, hoạt động và tăng sinh trong các hạch bạch huyết.

Các hạch bạch huyết được xếp loại từ nông đến sâu. Các hạch bạch huyết nông nằm ở lớp hạ bì dưới da, và các hạch bạch huyết sâu ở khắp các nơi khác. Hầu hết các hạch bạch huyết nông và sâu nằm gần hoặc trên các mạch máu. Có khoảng 450 hạch bạch huyết được tìm thấy khắp cơ thể. Các hạch cổ và đầu (khoảng 70 hạch) chứa bạch huyết từ đầu và cổ, các hạch nách (khoảng 30 hạch) chứa bạch huyết từ chi trên và ở lớp ngực nông, các hạch ngực (khoảng 100 hạch) chứa bạch huyết từ thành ngực và các cơ quan, các hạch chậu bụng (khoảng 230 hạch) chứa bạch huyết từ bụng và chậu, và các hạch bẹn và khoeo (khoảng 20 hạch) chứa bạch huyết từ các chi dưới và lớp nông ở chậu.

Hình 22.6 (a) Các mũi tên chỉ hướng chảy của bạch huyết. Khi bạch huyết chảy đến các xoang, đại thực bào ăn các dị vật. Trung tâm mầm là nơi sản sinh tế bào bạch huyết

Hình 22.6 (a) Các mũi tên chỉ hướng chảy của bạch huyết. Khi bạch huyết chảy đến các xoang, đại thực bào ăn các dị vật. Trung tâm mầm là nơi sản sinh tế bào bạch huyết

Hình 22.6 b Mô học hạch bạch huyết

Hình 22.6 b Mô học hạch bạch huyết

Chứng thoát vị đùi

Bạch huyết từ các chi dưới dẫn lưu vào các hạch bạch huyết bẹn nằm ở vùng bẹn. Ống đùi là lối đi thông  các mạch bạch huyết từ các hạch bẹn vào ổ bụng. Ống đùi là điểm yếu tiềm tàng ở thành bụng. Chứng thoát vị đùi xảy ra khi một vòng ruột bị đẩy vào trong, hay thậm chí hoàn toàn trôi vào trong ống đùi.

Xung quanh mỗi hạch bạch huyết có một bao mô liên kết đặc. Các phần mở rộng của bao này gọi là các bẹ (trabeculae) tạo thành một khung xương tinh tế ở trong hạch bạch huyết. Các sợi lưới rải rộng từ bao này đến các bẹ để tạo thành một mạng lưới sợi bao trùm toàn bộ hạch. Ở vài chỗ trong hạch bạch huyết, các tế bào bạch huyết và đại thực bào chen chúc nhau quanh các sợi lưới để tạo thành mô bạch huyết; ở các vùng khác, các sợi lưới trải rộng ra dọc các khoảng trống để tạo thành các xoang bạch huyết. Mô bạch huyết và các xoang bạch huyết trong hạch này được sắp xếp thành hai lớp không tách bạch, một lớp vỏ ở ngoài và một lớp tủy ở trong. Lớp vỏ gồm một xoang dưới bao, và các xoang ở vỏ được các mô bạch huyết khuyếch tán, các bẹ và các hạt bạch huyết tách ra. Lớp tủy được sắp xếp thành nhánh, thành các dây mô bạch huyết khuyếch tán không đều, gọi là các dây tủy, được các xoang tủy tách ra.

Các hạch bạch huyết là các cấu trúc duy nhất chứa bạch huyết. Các hạch này có các mạch bạch huyết hướng tâm, mang bạch huyết ra khỏi hạch. Bạch huyết từ mạch hướng tâm đi vào các xoang dưới bao, thấm qua các vùng tủy và vỏ, rồi đi ra khỏi hạch qua các mạch ly tâm. Các mạch ly tâm của một hạch bạch huyết này có thể là mạch hướng tâm của hạch khác hoặc qui tụ lại với nhau để tạo thành vòi bạch huyết, mang bạch huyết vào máu ở tĩnh mạch ngực.

Các đại thực bào lót các xoang bạch huyết loại trừ các vi khuẩn và các dị vật ở bạch huyết khi bạch huyết từ từ thấm vào các xoang. Các vi thể và dị vật  trong bạch huyết có thể kích thích các tế bào bạch huyết trong toàn bộ hạch để tiến hành phân bào, với sự tăng sinh đặc biệt dễ thấy ở các hạch bạch huyết ở miền vỏ. Đây là các vùng nhanh chóng phân bào, được gọi là các trung tâm mầm. Các tế bào bạch huyết mới được sinh ra được giải phóng vào bạch huyết và cuối cùng vào đến máu, rồi được tuần hoàn ở đó. Như vậy, các tế bào bạch huyết có thể ra khỏi máu và đi vào các mô bạch huyết khác.

11. Các hạch bạch huyết nằm ở đâu? Mô tả các bộ phận của hạch bạch huyết, và giải thích bạch huyết chảy như thế nào qua một hạch bạch huyết.

12. Các chức năng của các hạch bạch huyết là gì? Làm thế nào chúng thực hiện được các chức năng đó? Trung tâm mầm là gi?

Lá lách

Lá lách, kích cỡ chừng một nắm tay, nằm ở cực trên bên trái ổ bụng (hình 22.7). Trọng lượng trung bình lá lách của người trưởng thành là 180g ở nam và 140g ở nữ. Kích cỡ và trọng lượng của lá lách có khuynh hướng giảm ở người già, nhưng ở các bệnh nào đó, lá lách có thể đạt tới trọng lượng là 2000g hoặc hơn.

Hình 22.7 Lá lách

Hình 22.7 Lá lách

(a) Lá lách nhìn phía trước (b) Thiết đồ thể hiện sự sắp xếp của động mạch, tĩnh mạch, tủy trắng và tủy đỏ. Tủy trắng nối với động mạch, tủy đỏ nối với tĩnh mạch (c) Dòng máu chảy qua tủy đỏ và tủy trắng.

Hình 22.7 (d) Mô học lá lách

Hình 22.7 (d) Mô học lá lách

Lá lách có lớp bao mô liên kết đặc bên ngoài và một lượng nhỏ cơ trơn. Các bó sợi mô liên kết từ bao này tạo thành các bẹ, đi sâu vào lá lách, chia nó ra thành các khoang nhỏ, liên thông với nhau. Các động mạch, tĩnh mạch, và mạch bạch huyết đi vào qua các bẹ để phân bố cho các khoang chứa tủy đỏ và trắng. Tủy trắng là mô bạch huyết quanh các động mạch trong lá lách. Tủy đỏ gắn với các tĩnh mạch. Nó gồm một mạng lưới sợi, có đầy đại thực bào và tế bào máu đỏ, và các mao mạch lớn nối với các tĩnh mạch. Khoảng một phần tư thể tích lá lách là tủy trắng và ba phần tư là tủy đỏ.

Các nhánh động mạch của lá lách đi vào lá lách tại rốn lá, và các nhánh này đi theo nhiều bẹ vào trong lá lách (xem hình 22.7a và b). Từ các bẹ, các nhánh động mạch đi vào tủy trắng, tủy này bao gồm bao bạch huyết quanh động mạch và các hạt bạch huyết (xem hình 22.7c) Bao bạch huyết quanh động mạch là các mô bạch huyết khuyếch tán nằm xung quanh các động mạch và các tiểu động mạch đi vào các hạt bạch huyết. Các tiểu động mạch đi vào các hạt bạch huyết và hình thành các mao mạch tiếp tế cho tủy đỏ, vốn chứa các dây tủy lá lách và các xoang tĩnh mạch. Các dây lá lách là một mạng lưới tế bào lưới sản xuất các sợi lưới (xem chương 4). Các khoang trống giữa các tế bào lưới bị các đại thực bào và tế bào máu đi từ mao mạch đến chiếm giữ. Các xoang tĩnh mạch là các mao mạch lớn ở giữa các dây lá lách. Các xoang tĩnh mạch thường nối với các tĩnh mạch ở bẹ, các tĩnh mạch này hợp nhất để tạo thành các mạch đi ra khỏi lá lách để hình thành tĩnh mạch lá lách.

Dòng máu chảy qua lách hoặc là mất vài giây hoặc là vài phút đến một giờ hoặc hơn. Hầu hết máu chảy qua lách nhanh chóng. Dòng chảy nhanh là do dòng máu từ đoạn cuối các mao mạch đổ vào đoạn đầu các xoang. Mặc dù có vài mao mạch nối trực tiếp với các xoang tĩnh mạch, nhưng hầu hết các mao mạch cách nhau một khoảng nhỏ (xem hình 22.7c). Dòng máu chảy chậm hơn khi máu ra khỏi các đoạn cuối mao mạch, đi vào các dây lá lách, thấm ra ngoài vào qua các thành của các xoang tĩnh mạch.

Lá lách tiêu hủy các tế bào máu đỏ có khiếm khuyết, phát hiện và phản ứng với các dị vật trong máu, và hoạt động như một nguồn trữ máu. Khi các tế bào máu già cỗi, không thể uốn và cuộn được nữa. Cho nên, các tế bào này có thể rách ra khi đi chầm chậm qua mặt sàng các dây lá lách hay các khe giữa các tế bào ở các thành của xoang tĩnh mạch. Các đại thực bào sau đó ăn các mảnh vỡ tế bào.

Các dị vật trong máu đi qua lá lách có thể kích thích một phản ứng miễn dịch vì có các tế bào bạch huyết đã biệt hóa có mặt trong tủy trắng (xem “Miễn dịch thích nghi, tr. 798). Có nhiều tế bào T trong bao bạch huyết quanh động mạch và tế bào B trong các hạt bạch huyết.

Các dây lá lách là một nguồn hữu hạn cung cấp máu. Ví dụ, trong khi luyện tập thể tích máu lá lách có thể giảm đến 40%-50%. Kết quả là sự gia tăng một ít tế bào máu đỏ trong vòng tuần hoàn có thể cải thiện sự phân phối oxy đến các cơ khi tập luyện hoặc trong các trường hợp khẩn cấp. Hiện nay chưa biết được là liệu sự suy giảm máu đó trong lá lách là do sự co các cơ trơn trong bao, do sự co các sợi cơ trơn (myofibroblast) trong các bẹ, hay từ sự suy giảm dòng máu qua lách là do các mạch máu bị co lại.

Vỡ lách

Mặc dù lá lách được các xương sườn bảo vệ, nó thường bị vỡ trong những chấn thương do sang chấn ở ổ bụng. Lá lách bị vỡ có thể gây chảy máu nghiêm trọng, sốc và tử vong. Can thiệp bằng phẫu thuật có thể cầm máu. Các vết rạn ở lách có thể sửa chữa lại bằng cách may và các thuốc chống đông máu. Mắt lưới quấn quanh lách có thể giữ nó liền nhau. Phẫu thuật cắt bỏ lách có thể cần nếu các kỹ thuật khác không cầm được máu. Các cơ quan bạch huyết khác và gan phải bù đắp lại cho việc mất các chức năng của lách.

13 Lá lách nằm ở đâu? Kể tên hai thành tố của tủy đỏ và tủy trắng.

14 Giải thích dòng máu chảy nhanh và chậm qua lách.

15 Ba chức năng của lách là gì?

Case study

Phù bạch huyết

Cindy, một phụ nữ 40 tuổi được chẩn đoán ung thư vú. Trước khi cắt khối ung thư ở ngực trái, phẫu thuật viên tiêm chất nhuộm và chất đánh dấu phóng xạ, gọi là technetium-99, vào chỗ khối u.  Thuốc nhuộm và chất đánh dấu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật viên tìm các hạch bạch huyết báo hiệu, là các hạch gần nơi khối u nhất. Lấy mẫu các hạch bạch huyết báo hiệu cho ung thư. Khi tìm thấy các tế bào ung thư trong đó, phẫu thuật viên cắt bỏ các hạch bạch huyết ở nách  ra khỏi phía dưới cánh tay trái của Cindy.

Một vài ngày sau phẫu thuật, Cindy chú ý thất da ở cánh tay trái hơi căng và cảm thấy cánh tay nặng trịch. Thêm nữa, chiến nhẫn cưới bị chật hơn bình thường. Cindy bị ứ dịch bất thường ở chi trên, gọi là phù bạch huyết, do việc cắt các hạch bạch huyết nách mà ra. Ở Mỹ, nguyên nhân thường gặp nhất của phù bạch huyết là do cắt hay tổn hại đến các mạch và hạch bạch huyết do phẫu thuật ung thư hoặc xạ trị. Khoảng 10%-20% phụ nữ phát bệnh phù bạch huyết sau cắt các hạch bạch huyết nách.

DỰ BÁO 1

  1. Đâu là cơ sở trong việc xét nghiệm các hạch bạch huyết báo hiệu đối với ung thư?
  2. Đâu là cơ sở trong việc cắt bỏ các hạch bạch huyết nách của Cindy?
  3. Tại sao cắt bỏ các hạch nách gây ra phù bạch huyết?
  4. Tập luyện có thể giúp giảm phù bạch huyết. Hãy giải thích.
  5. Băng ép hoặc áo quần có thể giúp giảm phù bạch huyết. Hãy giải thích.
  6. Trong liệu pháp bơm nén khí, áp lực của áo quần giáp với một chi gia tăng và giảm theo chu kỳ. Thêm vào đó, áp lực gia tăng liên tiếp từ phần đầu xa cho đến đầu gần của chi. Liệu pháp này tác động thế nào để giảm phù bạch huyết?

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bệnh học nội khoa, Giải phẫu and tagged . Bookmark the permalink.

Có 2 phản hồi tại Hệ bạch huyết

  1. Arbie nói:

    Em o My, hien dang hoc den chapter nay, trung hop lai cung 1 cuon sach “Seeley Stephens Tate: Anatomy and Physiology “. Day la ban dich cua chi a ? Rat thu vi khi doc ban tieng viet, vi co nhung tu em khong biet tieng viet goi la gi. Chi co ban dich nhung chapters tiep theo khong? Cam on chi da post.

    • Mộng Chè nói:

      Do chương này liên quan đến phù bạch huyết, một khóa chị đang học nên sẵn tiện chị dịch rồi quăng lên cho mọi người đọc chơi. Nếu em có nhu cầu, có thể liên hệ dịch vụ người ta dịch cho những chương còn lại. Thân.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s