Hô hấp (5) – Khám thực thể và điều trị


(bài đang hoàn thiện)

Việc lượng giá hệ hô hấp bao gồm quan sát, dùng những kỹ thuật bằng tay như sờ và gõ và thính chẩn thường thì dùng ống nghe. Chương này trình bày một loạt sườn thông tin  nhà vật lý trị liệu cần được thu thập và những kỹ thuật thường dùng. Những cuốn sách khác mô tả sự lượng giá chi tiết hơn (Crane 1990; De Cesare và Graybill 1990 và Kigin 1992)

Mỗi trẻ được nhà vật lý trị liệu lượng giá và ghi bệnh sử vào lần gặp đầu tiên, và việc tái lượng giá được thực hiện vào những lần thăm bệnh sau đó. Ghi bệnh sử từ lời khai của cha mẹ tạo điều kiện cho nhà vật lý biết câu trả lời cho những câu hỏi như: Ho có đàm không, nếu có thì chất tiết nhiều bị nhiễm trùng hay đặc? Ho liên tục không, có ho nhiều hơn vào buổi sáng hay ho cách quãng? Trẻ có bị nhiễm trùng tái phát đường hô hấp không hay viêm mũi? Có nhiễm trùng đường hô hấp trên ngay sau khi bị ho không? Trẻ có bị khó thở không, nếu có, thì khi nào? Trẻ có năng động như những trẻ khác cùng tuổi không? Có những cơn khó thở hay thở khò khè không? Những cơn đó có là do sau khi gắng sức, sau xúc động mạnh hoặc do những nhân tố khác xảy ra trước đó không? Những cơn đó xảy ra trong đêm hay khi ở trường? Tác động của những khó khăn đó lên đời sống của trẻ như thế nào?

Nhà vật lý trị liệu phải biết thuốc gì đã được kê và bác sĩ đã cho gia đình những lời khuyên gì. Các phim chụp x-quang và những báo cáo của KTV x-quang được nghiên cứu để phát hiện những vùng phổi bị sụp hoặc kết dính hoặc bất kỳ bất thường có liên quan nào khác (H.27.1 – 27.4).

Sự lượng giá bao gồm khám hình dạng lồng ngực trẻ, ghi nhận xem các xương sườn dưới có loe ra, lồng ngực hình thùng hoặc bất đối xứng, hoặc phần trên xương ức trồi ra. Ghi lại mẫu nở rộng của lồng ngực, đặc biệt độ di động lồng ngực trên và xem liệu các gờ dưới sườn có sát lại với nhau khi hít vào không. Nếu các gờ dưới sườn có di chuyển lại gần nhau thì đó là dấu hiệu cho thấy cơ hoành đã tương đối bị dẹt rồi và khi hít vào nó di động khá bất thường. Xem liệu đứa trẻ thở bằng miệng hay không, nếu có, yêu cầu trẻ thở bằng mũi xem có được không. Tỉ lệ hô hấp lúc nghỉ được ghi lại khi người kỹ thuật viên đã làm cho trẻ tự tin và khi trẻ không căng thẳng, không lo hãi. Khi ho, ghi nhận liệu việc ho có làm trẻ bị hụt hơi không – ho kịch phát hay có đàm. Thông tin cần phải chính xác và trực tiếp, nếu được, về bản chất và số lượng đàm.

Một bàn tay đặt lên lồng ngực cảm nhận sự rung do cơn co thắt phế quản hoặc chất tiết tích tụ, và giúp người kỹ thuật viên vật lý trị liệu xác định vị trí dẫn lưu. Dùng ống nghe để xác định các vùng lắng đọng chất tiết, nhưng người vật lý trị liệu cần thực tập nghe hơi thở bình thường rất nhiều trước khi ống nghe phát huy tác dụng (Baskett 1971; Kigin 1992)

Lượng giá một trẻ đang bị kinh động thì tốt hơn cho trẻ ngồi trên gối cha mẹ hơn là cho ngồi một mình trên giường bệnh. Khám khi bộc lộ ngực là quan trọng và thường cha mẹ cởi áo cho con ít làm trẻ sợ hơn.

Đo độ dãn nở lồng ngực

Đo độ dãn nở lồng ngực là một phương pháp lượng giá tầm độ vận động lồng ngực. Nó đóng vai trò quan trọng là một phương tiện để đánh giá tiến bộ của trẻ bị bệnh hô hấp mãn tính như dãn phế quản và xơ nang, là những trẻ độ dãn nở lồng ngực có thể bị hạn chế. Tuy nhiên, có thể không cần thiết phải lưu hồ sơ đối với một số trẻ được kỹ thuật viên thăm khám vì nó không cung cấp bất kỳ thông tin nào về sự phân phối không khí mà chỉ nói về độ di động của lồng ngực mà thôi (Grimby 1974). Ở nhiều trẻ, ví dụ ở trẻ bị bệnh suyễn, thì lượng giá khi trẻ thở là một cách và người vật lý phải ghi nhận lại chi tiết sự quan sát.

 

Hình 27.1 Phế đồ của một trẻ bị dãn phế quản. Hãy chú ý sự đông đặc phế quản thùy phải dưới nối với tim, và sự dãn theo hình trụ của phế quản xa hơn đáng lẽ ra theo lẽ phải hẹp hơn khi chúng vươn đến khoang màng phổi

Hình 27.2 Hình chụp x-quang minh họa các tác động của sự hít kerosene ở trẻ 18 tháng tuổi

Hình 27.3 Hình chụp x-quang này minh họa sự sụp thùy phổi trái kèm tràn khí ở các thùy còn lại. Chú ý rằng tim và trung thất đã dịch chuyển về phía bị sụp, và bên trái cơ hoành bị nâng lên về phía bị sụp

Hình 27.4 Hình x-quang minh họa viêm phế quản phổi ở trẻ bị xơ nang. Có độ dày đặc chắp vá và rải rác khắp hai lá phổi.

Dùng thước dây đo các chỉ số, trẻ nằm cùng tư thế mỗi lần đo, nằm nửa người, ngồi hoặc đứng, tại xương sườn thứ 4 (ở mức nách), tại xương sườn thứ 9 (dưới mỏm xương ức chiều rộng ba ngón tay), và dưới sườn. Các số đo được lấy khi thở ra hết và hít vào hết sức, số lần đo trung bình là ba lần.

Lấy mẫu đàm

Nhà vật lý trị liệu ghi nhận lại số lượng đàm mỗi lần đến thăm bệnh, và loại đàm, có bọt hay không, loãng hay đặc. Kiểu ho cũng được ghi lại, ho khan và từng tiếng hay kịch phát và ho có hiệu quả hay không.

Nếu cần phải lấy mẫu đàm để kiểm tra bệnh lý, bảo trẻ khạc đàm vào một ống thủy tinh vô trùng, dán tên và ngày lấy lên đó. Nếu trẻ quá nhỏ không thể hợp tác, thì có thể lấy đàm sau cổ họng bằng que đầu có quấn bông. Một ống nhỏ được ấn vào để kích thích phản xạ ho, cằm trẻ được ấn vào trong để ngăn trẻ nuốt và đàm được lấy ra bằng một que, que này được đặt trong một ống nghiệm vô trùng. Phải cẩn trọng không được làm nhiễm trùng mẫu hoặc dụng cụ lấy đàm và phải dùng găng tay sạch. Một phương pháp hiệu quả hơn nữa là dùng túi nhựa đựng đàm gắn vào ống hút đàm (H.27.5). Ống đựng phải được dán tên trẻ, ngày, giờ lấy và loại mẫu, ví dụ là ống nội khí quản hay ở ống hút thực quản. Nên được gởi đến khoa vi trùng học càng sớm càng tốt. Bằng cách này đàm có thể được lấy một cách hiệu quả thậm chí ở trẻ sơ sinh. Đây là những thao tác khó chịu và gây sợ hãi cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nên cần được thực hiện chính xác ngay lần đầu tiên nếu có thể.

Lượng giá sức bền tập luyện

Cha mẹ cho nhận xét về khả năng sức bền tập luyện nếu được hỏi rằng liệu con mình có theo kịp chúng bạn cùng lứa khi chơi trò chơi vận động và thể thao không. Trong trường hợp trẻ bị suyễn, cần làm rõ sức bền tập luyện khi không có cơn co thắt phế quản và khi có cơn đó. Nhảy dây hay nhảy xà là một cách hiệu quả để lượng giá sức bền tập luyện ở trẻ em bị dãn phế quản, xơ nang hoặc suyễn. Sau 2 phút hoạt động như thế, ghi lại nhịp thở, mạch, việc sử dụng các cơ thở phụ và bất kỳ sự tăng ho hay thở khò khè nào. Nếu điều kiện xét nghiệm cho phép, sự thong khí, nhịp tim, nhịp thở và khối lượng tập luyện đạt được có thể được đo trong suốt buổi kiểm tra tập luyện trên một xe đạp chuyên dụng, thảm lăn hoặc dùng step test trước và sau chương trình tập luyện (Alison và Ellis 1992). Ở trẻ bị co thắt phế quản có thể phải dùng đến nhiều bài tập kiểm tra đặc hiệu làm công cụ chẩn đoán hơn. Godfrey (1974) mô tả chi tiết qui trình này. Trẻ bị suyễn có thể cho thấy ống thuốc dãn phế quản và/hoặc muối cromoglycate có thể chặn được cơn suyễn do tập luyện.

(còn tiếp)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s