Hô hấp (4) – các phương pháp trị liệu

(bài đang hoàn thiện)

Xơ nang

Đây là bệnh di truyền, rối loạn ảnh hưởng toàn thân. Nó di truyền theo đặc tính lặn Mendel, và giờ đây người ta thấy nó khá phổ biến trong cộng đồng (có thể 1:2000). Suất độ thay đổi trong các gia đình mang gen. Ví dụ, trong một gia đình có 4 người con, thì có thể có 3 người mắc, trong khi một gia đình có 7 người thì chỉ có một người có thể mắc. Một số trẻ ở cả hai gia đình sẽ là người mang gien bệnh, nhưng không có phương pháp tích cực nào tại thời điểm này dùng để phát hiện thành viên nào trong cộng đồng là người mang gien bệnh cả. Đối với trẻ sinh ra mắc bệnh xơ nang, cả cha và mẹ chắc chắc có mang gien bệnh (Hình 26.5)

Bệnh lý    

Tuyến nội tiết thường góp mặt nhất và quan trọng nhất là những tuyến ở tụy và những tuyến ở khí phế quản. Chất tiết của tuyến đặc bất thường và dễ gây tắc nghẽn. Tuyến nước bọt, xoang mũi, ruột và tuyến mồ hôi cũng là tuyến nội tiết.

Khiếm khuyết của tuyến tụy, vốn do sự tắc nghẽn của ống dẫn, do tụy không tiết được enzyme trypsin, lipase và amylase, vốn là những chất cần thiết để bẻ gãy các chất béo. Cuối cùng, sự tiêu hủy các tế bào tạo enzym xảy ra. Kết quả là có sự gián đoạn sự hấp thu chất béo.

Khiếm khuyết tuyến thuộc hệ hô hấp là loại khiếm khuyết nghiêm trọng và khó kiểm soát nhất. Chất nhầy thuộc phế quản bình thường được tế bào chất nhầy và huyết thanh tạo ra, nhưng trong trường hợp bệnh xơ nang, nó tạo ra một lượng lớn bất thường. Chất nhầy đặc biệt dầy và dính gây tắc nghẽn đường dẫn khí. Viêm phổi và các cơn viêm phế quản lặp đi lặp lại là thường thấy và đứa trẻ có thể bị ho mãn tính. Đờm bị ken chặt rồi gây viêm nhiễm, khiến sự tắc nghẽn càng trầm trọng thêm do sưng phù và khích thích thêm sự tăng tiết đờm. Hoạt động của lông rung bị sa sút và cơ chế làm sạch tự nhiên của phổi kém hiệu quả. Sự tắc nghẽn đường dẫn khí nhỏ nếu là tắc nghẽn toàn bộ thì gây xẹp phổi đầu xa của chỗ tắc nghẽn. Sự co thắt phế quản có thể xảy ra với tác động quan sát thấy như ở bệnh suyễn. Bệnh phổi được kiểm soát thì những thay đổi ở đường hô hấp là có thể phục hồi được (xem Hình 23.1). Nếu bệnh tiếp tục không được kiểm tra, thì có thể phát sinh chứng dãn phế quản do sự yếu thành phế quản tiến triển. Các túi nhầy trong tiểu phế quản có khuynh hướng bị tái nhiễm trùng và dẫn đến đường hô hấp bị tổn hại nhiều hơn. Tổn thương đường hô hấp có thể tiến triển thành tràn khí do tắc nghẽn và cuối cùng là suy tim phải. Đàm nhớt không thể dịch chuyển chịu trách nhiệm trong những thay đổi tiến triển trầm trọng và không thể phục hồi trong phổi.

Khiếm khuyết trong tuyến mồ hôi do sự tăng tiết muối và clo trong mồ hôi.

Thể hiện lâm sàng

Thể hiện sớm nhất của loại rối loạn này có thể là sự tắc ruột do phân su ở trẻ mới sinh. Ngay sau khi sinh, quan sát thấy ruột già bị tắc do phân su dày dính. Ở đa số trẻ này có những dấu hiệu bất toàn thuộc tụy xuất hiện trước những dấu hiệu bất toàn ở đường hô hấp. Trẻ thải ra một lượng lớn phân hôi trơn như mỡ và chậm lớn, chậm tăng cân. Khiếm khuyết thuộc tụy có thể gây đau bụng  và táo bón tái phát.

Các dấu hiệu ở đường hô hấp thay đổi tùy theo bệnh học có mặt tại thời điểm khám. Khi khám có nhiễm trùng mãn tính trong phổi thì trẻ chậm lớn và sự chậm lớn này có thể bị trầm trọng hơn do có trục trặc trong sự hấp thu thức ăn ở ruột. Nếu có viêm phế quản hoặc dãn phế quản thì bé sẽ ho ra đàm dày dính như mủ. Nếu nhiễm trùng gây viêm phổi thì ho kịch phát, có thở nhanh và nông kèm các cơ thở phụ làm nâng lồng ngực lên khi hít vào. Nếu có co thắt phế quản sẽ nghe thở khò khè. Các thay đổi do tràn khí sẽ khiến lồng ngực phình quá mức. Có thể bị khó thở trầm trọng. Trẻ có khuynh hướng bị mất nước và kiệt sức do nóng do thời tiết vì khiếm khuyết trong tuyến mồ hôi.

Bệnh thay đổi nhiều về mức độ nghiêm trọng. Ở một số trẻ thể hiện các triệu chứng nghiêm trọng khi tuổi còn nhỏ và bệnh tiến triển nhanh đến tử vong. Ở các trẻ khác bệnh bắt đầu theo cùng một kiểu, nhưng tình trạng bệnh cải thiện và trẻ có thể xoay trở để sống một cuộc đời bình thường.

Khi sự điều trị những trẻ này được cải thiện thì nhiều trẻ sống sót đến thời thiếu niên và người lớn. Tiên lượng của trẻ dường như phụ thuộc lớn vào chất lượng điều trị mà trẻ nhận được. Nếu đường dẫn khí được giữ cho sạch sẽ, và nếu phòng tránh được hoặc giới hạn đến mức thấp nhất những tổn hại không thể phục hồi, thì tiên lượng sẽ tốt hơn nhiều.

Chẩn đoán

Test tin cậy nhất là điện phân mồ hôi. Lấy mồ hôi bằng điện phân dẫn thuốc, sau đó tính toán lượng muối và clo. Nếu muối quá 60mmol/l là dấu hiệu có xơ nang.

Điều trị    

Bệnh này không chữa được. Việc điều trị là điều trị triệu chứng và gồm việc thay thế các chiết xuất động vật cho các enzyme vắng mặt trong tuyến tụy, phòng ngừa những thay đổi không thể phục hồi ở đường  hô hấp, phòng tránh kiệt sức do nóng bằng cách thêm đủ lượng muối vào chế độ ăn, duy trì tổng trạng tốt và tình trạng cảm xúc lành mạnh cho cả bé và gia đình. Mục tiêu chính của mọi phương pháp điều trị là tạo điều kiện cho đứa trẻ sống một cuộc sống càng bình thường càng tốt. Ghép một hoặc hai lá phổi hiện nay cho thấy là có thành công ở trẻ bị bệnh này.

Quản lý tổn thương đường hô hấp do tắc nghẽn

Những test cấy đờm và độ nhạy tạo điều kiện cho những mầm bệnh đặc thù được phát hiện để dùng những thuốc thích hợp. Việc điều trị phải phù hợp với giai đoạn tổn thương của đường hô hấp, nhưng về cơ bản nó phải hướng đến sự làm sạch đờm bị tăng tiết trong đường dẫn khí. Sự điều trị này phải đặt ở vị trí hàng đầu trong suy nghĩ của nhà vật lý trị liệu khi điều trị cho trẻ. Phải phòng tránh những biến đổi không thể phục hồi được trong phổi nếu được, nhưng nếu những biến đổi đó đã xảy ra rồi, thì việc điều trị nhắm đến sự duy trì chức năng tối ưu cho phổi. Sự việc những biến đổi không thể phục hồi của phổi là điều dường như thường xảy ra hơn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ do tác động của sự nhiễm trùng và chất tiết ứ đọng trong hai lá phổi còn tương đối kém phát triển (chương 24)

Các phương pháp làm sạch chất tiết

Chỉ một phương pháp dẫn lưu tư thế thông thường không đủ để điều trị cho trẻ bị xơ nang. Chất tiết thường dày và dính và do đó khó bị đánh bật ra. Độ dính của đờm giảm khi bơm hoặc uống thuốc. Điều này tạo thuận cho việc tống đờm ra. Trẻ sơ sinh nào không thể ho hiệu quả phải được kích thích cho ho.

Xông thuốc trị liệu   

Độ dính của chất tiết phế quản có thể giảm đi bằng cách dùng vài phương pháp.

Liệu pháp bơm thuốc cách hồi thông qua ống ngậm ở miệng hoặc mặt nạ. Ống ngậm ở miệng được cho là hiệu quả hơn nhưng trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh cần dùng mặt nạ. chất tiết có thể được pha loãng thông qua ống xịt nối với nguồn máy nén khí, thí dụ như một cái bơm xách tay (H. 26.6). Đây cũng là một phương pháp vừa ý dùng tại nhà. Chất làm loãng đàm được dùng. Trẻ được dùng liệu pháp này ba lần mỗi ngày hoặc theo yêu cầu, và sau làm loãng chất tiết phải có dẫn lưu tư thế. Nếu có co thắt phế quản, thì phải thêm thuốc chống co thắt phế quản vào bình xịt. Nếu có nhiễm trùng, phải cho kháng sinh thông qua bình xịt, nhưng trong trường hợp này, là phải cho sau khi dẫn lưu tư thế.

Một cách hít cách hồi khác là thông qua bình thông khí áp lực dương. Việc dùng bình còn nhiều tranh cãi và một số người có thẩm quyền đã coi nó là chống chỉ định đối với việc điều trị ở hầu hết trẻ sơ sinh và trẻ em có xơ nang, do có thể làm rách phế nang vốn đã bị sưng to quá ở những trẻ có những thay đổi do chứng dãn phế quản. Nó có thể được dùng ở những thùy phổi bị sụp, trong trường hợp đó tốc độ dòng khí lúc đầu phải chậm, và chỉ tăng lên dần dần. Đặt tư thế phù hợp với phần phổi cao nhất cũng là cần thiết. Liệu pháp áp lực dương cách hồi đã cho thấy là gia tăng thể tích khí cặn sau trị liệu một thời gian dài. Vì lý do đó một số tác giả đã đề xuất các đợt điều trị thời gian ngắn, tối đa là 14 ngày (Matthews và cộng sự 1964).

Dẫn lưu tư thế với vỗ và/hoặc FET

Đây là một phương pháp thiết yếu để di chuyển chất tiết ra khỏi phổi và phải được thực hiện chính xác và kỹ lưỡng. Nên bắt đầu việc này ngay khi trẻ được chẩn đoán là bị xơ nang. Đây được coi là cách tốt nhất để ngăn ngừa sự tích tụ chất tiết vốn dần dẫn đến việc hủy hoại chức năng hô hấp. Tecklin và Holsclaw (1975), trong một nghiên cứu những tác động của dẫn lưu phế quản trong một nhóm 26 bệnh nhân bị xơ nang, phát hiện ra có những gia tăng đáng kể trong lưu lượng đỉnh, dung tích sống gắng sức, thể tích khí dự trữ thở ra và dung tích hít vào. Feldman và cộng sự cho thấy có sự cải thiện tốc độ dòng khí khi thể tích phổi thấp sau dẫn lưu tư thế 45 phút. Nếu có thể giữ phổi cho sạch thì trẻ sẽ lớn. Có thể cần phải tập trung vào những vùng cục bộ, nhưng tất cả thùy phổi sẽ phải được dẫn lưu theo từng phiên. Việc này là tốn thời gian nhưng là quan trọng để trẻ được mạnh khỏe. Cha mẹ trẻ sẽ được dạy các kỹ thuật dẫn lưu, vỗ và thở và dùng những dụng cụ cần thiết để họ làm việc hiệu quả tại nhà. Để cha mẹ làm việc hiệu quả, họ phải hiểu được vấn đề của con cái mình, và phải giải thích một số chi tiết trong giải phẫu hệ hô hấp và sinh lý cho họ. Dẫn lưu tư thế mỗi ngày hai lần tại nhà với sự giám sát của nhà vật lý trị liệu mỗi lần đến thăm bệnh. Trẻ sơ sinh đặc biệt cần dẫn lưu trước khi ăn. Các phương pháp dẫn lưu được mô tả ở chương 27. Mỗi thùy phổi được dẫn lưu mỗi ngày và trẻ được vỗ mạnh. Các thùy trên có thể được dẫn lưu vào buổi sáng, thùy dưới buổi chiều tối. Thời lượng dẫn lưu phải được gia tăng trong giai đoạn nhiễm trùng. Ở trẻ sơ sinh, các thùy phổi trên là những thùy dễ tổn thương nhất, ở trẻ lớn hơn là các thùy dưới.

Khi trẻ đến tuổi thiếu niên, nhu cầu độc lập đòi hỏi nhà trị liệu bắt đầu thảo luận về tầm quan trọng của việc dẫn lưu tư thế và làm thế nào để thực hiện điều này một cách tốt nhất. Trẻ có thể thích có người bạn thân giúp mình trong chương trình hàng ngày này, hoặc cần nhà trị liệu đến thăm thường xuyên hơn.

Tập cách hỉ mũi hiệu quả cũng là phần quan trọng của việc dẫn lưu tư thế thường qui. Cho các bài tập tích cực toàn lực trước và sau dẫn lưu tư thế để giúp làm rời chất tiết. Bệnh khái huyết, miễn là ít, không phải là chống chỉ định đối với dẫn lưu tư thế. Tuy nhiên, nên tránh kỹ thuật vỗ và rung cho đến khi nguy cơ khái huyết đã qua, khi đó kỹ thuật được thực hiện mạnh mẽ để tống máu khô ra bằng không nó sẽ gây tắc nghẽn.

Các kỹ thuật thở đặc biệt những kỹ thuật thở ra gắng sức (FET) và dẫn lưu tự động được mô tả ngắn gọn trong chương 27 và được De Cesare và Graybill (1990) và Pryor (1992) mô tả chi tiết.

Các bài tập thở

Trong khi dẫn lưu nhấn mạnh vào việc dãn nở hoàn toàn và thở ra hết, để tạo thuận cho việc dẫn lưu chất tiết. Mục đích của các bài tập thở là cải thiện sự kiểm soát hơi thở bằng khuyến khích dùng bụng dưới thở nhẹ, thả lỏng ngực trên và vai (cái gọi là thở cơ hoành). Trẻ cũng được cho bài tập lúc nửa nằm nửa ngồi hoặc đứng sau khi tập bài tập chủ động. Đo vòng ngực liên tục (Serial chest measurements) có thể là một công cụ để tạo động cơ cho những trẻ miễn cưỡng thực hiện các bài tập thở ở nhà.

Những hoạt động chung

Huấn luyện cơ hô hấp đã được chứng minh là cải thiện được dung tích thông khí tối đa nhiều hơn 50%. Một chương trình thể dục tổng quát  ở trại hè cũng mang lại cải thiện tương tự (Keens và cộng sự. Phụ huynh cần có tư vấn về nhu cầu bài tập và hoạt động thể chất của con mình. Chạy lòng vòng và chơi những trò chơi vận động tích cực là những cách hữu ích làm long chất tiết và kích thích ho ra đờm. Bơi lội có lẽ cải thiện kiểm soát hơi thở và ở những trẻ đang lớn nó kích thích sự phát triển khung xương và hoạt động điều hợp cơ bắp. Những trẻ quá nhỏ không thể tham gia hoạt động có thể trải nghiệm mối liên hệ của cơ thể với sự thay đổi trọng lực bằng cách thay đổi tư thế nằm thường xuyên.

Những phương pháp điều trị sự bất toàn của tuyến tụy và rối loạn đường tiêu hóa

Bệnh nhi cần chế độ dinh dưỡng có đủ đạm và calori. Bác sĩ có thể hướng dẫn cha mẹ đến nghe lời khuyên của một chuyên gia dinh dưỡng. Thuốc thay thế cho enzym tuyến tụy được dùng mỗi ngày. Việc kiểm soát cho tốt các bệnh đường hô hấp cũng giúp sự dinh dưỡng tốt được duy trì. Trẻ tiết đàm nhiều khiến tích tụ thì dễ hiểu là sẽ ăn mất ngon và không thấy thích thức ăn.

Các phương pháp điều trị khiếm khuyết tuyến mồ hôi

Phụ huynh giám sát lượng muối đưa vào cơ thể mỗi ngày của con mình, đặc biệt trong thời tiết nóng. Nếu muối trong thức ăn không đủ, thì phải uống viên muối.

Chăm sóc về tâm lý xã hội

Bản chất căn bệnh này gây nhiều khó khăn đáng kể về cảm xúc và giao tiếp cho cha mẹ và bản thân trẻ. Đối với cha mẹ, có những lo hãi về bản chất khiếm khuyết gen và nguy cơ những đứa con sau này bị bệnh. Chi tiêu tốn kém cho những lần nhập viện định kỳ và giá cả của những dụng cụ phải dùng ở nhà. Cha mẹ phải gánh vác việc điều trị ở nhà cho con, là việc tiêu tốn thời gian và đôi khi có khó khăn nếu đứa bé phản kháng. Trẻ phải chịu đựng việc thăm khám của bác sĩ và nhà vật lý trị liệu, những đợt nhập viện cản trở việc đến trường và tham gia vào đời sống xã hội cũng như những đợt khó ở của hô hấp kém hiệu quả. Hỗ trợ tình cảm cho những trẻ này và cha mẹ của trẻ cũng sẽ giống như khi hỗ trợ trẻ bị khuyết tật lâu dài. Các nhóm tương trợ bệnh xơ nang thường là những nguồn lực quý báu cho những gia đình này.

Tóm tắt

Những rối loạn đường hô hấp thường gặp được quan sát thấy ở những trẻ được mô tả trong chương này. Trong trường hợp trẻ bị xơ nang và suyễn, là khi nhà vật lý trị liệu có thể được cần đến và đóng một vai trò phức hợp trong việc điều trị trẻ, cung cấp những hướng dẫn điều trị chi tiết. Để biết những kỹ thuật vật lý trị liệu, bạn đọc cần tham khảo chương 27.

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s