Hô hấp (1) – sự phát triển và cơ chế

Trẻ sơ sinh và nhi đồng bị các rối loạn hô hấp được chuyển sang cho nhà vật lý trị liệu để cải thiện chức năng hô hấp. Việc điều trị cho những trẻ như thế bao gồm ba mục tiêu cơ bản – nhằm làm sạch đường dẫn khí bị chất tiết hoặc chất do hít sặc làm tắc nghẽn, nhằm làm dãn nở lại những thùy phổi đã bị xẹp, và nhằm cải thiện cơ chế và sự kiểm soát thở. Những mục tiêu đó nhằm thỏa mãn mục đích chính là đảm bảo sự lưu thông đầy đủ vào và ra của không khí ở các cơ quan thiết yếu, thí dụ như não.

Có những kỹ thuật đặc biệt nhất định được nhà vật lý trị liệu sử dụng trong điều trị các rối loạn về gia tăng dịch tiết và thông khí kém hiệu quả, và những kỹ thuật đó được mô tả trong chương 27. Việc điều trị cho trẻ bị xơ nang (cystic fibrosis) và suyễn được mô tả riêng và chi tiết vì hai vấn đề phức tạp này phải được nhà vật lý trị liệu xử lý.

Trong điều trị cho cả trẻ sơ sinh và nhi đồng, giải phẫu của cây phế quản phải được xem xét kỹ lưỡng, thêm vào đó là tác động của thói quen tư thế đối với việc tích tụ chất tiết. Ví dụ, một trẻ sơ sinh hoặc trẻ nằm liệt giường bị viêm phổi sẽ dễ bị lắng đọng chất tiết ở thùy phổi trên bên phải, mặc dù cũng có lắng đọng ở nơi khác nữa. Một trẻ ngồi thẳng dễ bị hít sặc chất tiết vào thùy phổi dưới bên phải, vì phế quản phải thẳng hơn phế quản trái. Sự phát triển của đường dẫn khí cũng phải được xem xét. Trẻ sơ sinh có cây phế quản tương đối kém phát triển nên có thể phải chịu những hậu quả nhiễm trùng hoặc hít sặc nghiêm trọng hơn nhiều so với trẻ lớn hơn hay người lớn. Ví dụ, một tắc nghẽn nhẹ sẽ gây ra một sự suy giảm nghiêm trọng ở lát cắt dọc của dòng không khí vì kích cỡ nhỏ bé của đường dẫn khí ở trẻ nhỏ.

Có một yếu tố phòng ngừa quan trọng trong điều trị vật lý đối với những trẻ sơ sinh và nhi đồng này (H. 23.1). Các loại bệnh lý như viêm tiểu phế quản, hít sặc, viêm phổi do vi rút hoặc vi khuẩn có thể biến chứng thành xẹp phổi và ứ đọng chất tiết bị nhiễm trùng nếu chỗ bị nghẽn là do chất tiết và nếu chỗ tắc nghẽn bị bít hoàn toàn. Những biến chứng đó cũng có thể xảy ra sau cơn suyễn trong đó các nút chất nhày có thể làm tắc hoàn toàn đường dẫn khí. Chứng dãn phế quản có thể phát sinh do tác động của dịch nhày bị nhiễm trùng ở thành tiểu phế quản nếu chất dịch đó được cho phép ở lại các tiểu phế quản này. Một trẻ bị xơ nang có thể phát triển thành xẹp phổi, viêm phổi hoặc chứng dãn phế quản do thất bại trong cơ chế làm sạch chất tiết ứ đọng. Tràn khí có thể phát sinh ở trẻ, cũng như ở người lớn, do giảm khả năng hô hấp mãn tính. Hình 23.2 liệt kê những nguyên do khác nhau của việc tăng tiết chất nhày và hình 23.3 là các nguyên nhân của sự bít tắc đường dẫn khí.

Có thêm khía cạnh phòng ngừa nữa ở điều trị vật lý ở những trẻ có nguy cơ phát sinh các rối loạn ở đường thông khí dưới, và ở những bệnh nhân được chỉ định gặp nhà vật lý trị liệu vì các nguyên nhân bệnh phổi khác. Ở trẻ bị nhiễm trùng tái phát đường hô hấp trên, có thể ngăn chận được sự phát triển thành di chứng viêm phế quản  bằng cách dùng dẫn lưu tư thế và các bài tập thở được thiết kế sao cho duy trì đường dẫn khí được sạch sẽ. Trẻ bị yếu hay liệt các cơ thở và trẻ nằm liệt giường cũng cần điều trị phòng ngừa viêm phổi do lắng đọng và sụp thùy phổi nếu đường dẫn khí bị bít do chất tiết. Trẻ bị biến dạng nghiêm trọng lồng ngực, như trong bệnh vẹo cột sống và trong bệnh thoát vị tủy – màng tủy cũng cần điều trị để duy trì độ dãn nở tối đa của lồng ngực nhiều đến mức có thể bổ sung thêm việc làm sạch đường dẫn khí và nhờ đó mà có được hiệu suất hô hấp tối đa.

Viêm lớp niêm mạc:

Các dị ứng nguyên:                              Suyễn

Nhiễm trùng:                                        Viêm phổi

Viêm phế quản

Ho gà

Cơ chế kích thích:                               Dị vật  – Chất nôn

Rối loạn nguyên phát do dịch tiết các tuyến ở khí – phế quản:                     Xơ nang

Sự gia tăng chất tiết

Độ nhớt bất thường của chất tiết

Vật hít sặc:

Dị vật

Chất nôn

Chất tiết của đường hô hấp trên

Lao phổi

Co thắt phế quản

Bảng 23.3 Các nguyên nhân làm tắc nghẽn đường dẫn khí

Trẻ có phẫu thuật tổng quát thường không cần điều trị tiền và hậu phẫu để ngăn ngừa biến chứng hô hấp như người lớn với cùng loại bệnh cảnh, trừ phi những trẻ đó trước đó đã có bệnh ở phổi. Tuy nhiên, trẻ phải chịu phẫu thuật phổi hoặc tim thì cần vật lý trị liệu để ngăn ngừa các biến chứng phổi, và để lấy lại đầy đủ và hiệu quả việc sử dụng phổi.

Sự phát triển và cơ chế hô hấp

Một trong những nguyên nhân tử vong thường gặp nhất ở trẻ mới sinh là suy hô hấp. Hiểu được những khác biệt giữa phổi của một bào thai, của một trẻ mới sinh và phổi của một người lớn là quan trọng đối với nhà trị liệu nhằm đưa ra điều trị cho trẻ sơ sinh và nhi đồng.

Khi trẻ khóc chào đời, hai lá phổi chưa phát triển hoàn toàn. Số lượng đường dẫn khí và phế nang và đường kính của phế nang tiếp tục gia tăng cho đến khi trẻ được 8 tuổi. Có một số chứng cớ cho rằng lượng phế nang tiếp tục gia tăng cho đến khi trẻ được 12 tuổi (Doershuk và cộng sự 1975) và rồi sự phát triển bình thường và tái tạo hình hệ thông khí tiếp tục đến khi trưởng thành (Thurlbeck 1975; Reid 1977; Kendig và Chernick 1977). Điều quan trọng cần nhớ khi điều trị cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có bệnh hô hấp là bởi vì sự phát triển của đường dẫn khí và các khoang khí tùy thuộc một mức độ nào đó vào nhu cầu đặt lên chúng. Bệnh ứ đọng chất tiết đang diễn ra có thể do sự phát triển bất thường vì, suốt thời kỳ gia tăng phế nang, bất kỳ tiến trình hư hại nào cũng sẽ hạn chế tiềm năng phát triển số lượng phế nang của phổi (Polgar và Weng 1979). Tương tự như thế, nhà trị liệu cũng phải lưu ý rằng việc điều trị nhắm vào đường dẫn khí còn non yếu và nhỏ bé như thế phải không được gây tổn hại nếu không sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng trong tương lai của mô phổi.

Phổi của phôi và bào thai
Sự phát triển phổi của phôi được tóm tắt trong bảng 24.1

Thời gian Sự phát triển
24 ngày Mọc túi phình
26-28 ngày Hai nhánh chính xuất hiện – là hai phế quản chính
8 tuần Hình thành tuyến nhầy quanh khí quản
10 tuần Bắt đầu lắng đọng sụn
12 tuần Phân ranh rõ các thùy
Các sợi đàn hồi ở thành phế quản chính và khí quản
Các vòng sụn ở phế quản thùy và phân thùy
Tạo thành nhiều tuyến chất nhầy hơn
16 tuần Gần như hoàn tất việc hình thành phân nhánh phế quản
18-20 tuần Nhận ra được các vách ngănXuất hiện lông mao trên các tế bào biểu mô của khí quản và phế quản chính, và mọc lan ra xung quanh
20 tuần Thông các đường dẫn khí với nhau
24 tuần Các phế quản thành hình như lúc đến kỳ sinh nở
26-28 tuần Mạng lưới mao mạch tăng sinh cạnh các đường dẫn khí đang phát triển
28 tuần Phổi giờ đây trở thành cơ quan có mạng lưới mạch máu nhiều nhất cơ thể. Việc duy trì cuộc sống sau khi trẻ được sinh ra là phụ thuộc vào khả năng trao đổi khí được hình thành vào giai đoạn này.
28 tuần đến khi sinh Các phế quản tận hình thành các túi phình tiểu phế quản, và từ đây cho tới lúc sinh nó gia tăng số lượng để hình thành những ống gọi là ống phế nang
Khi sinh Tiểu phế quản tận dẹt. Các túi khí tận cùng (túi phế nang) nông choèn và mở miệng rộngDòng lưu thông máu phổi gia tăng do phổi căng phồng về mặt cơ họcTuần hoàn phổi kéo dài hơn.20 triệu phế nang xuất hiện. Chúng bắt đầu dãn nở và phình ra ngay khi hô hấp
6-8 tuần Các phế nang rẽ nhánh mạnh điển hình có thể nhìn thấy được
Nhiều tháng sau Các túi tận cùng (túi phế nang) mang hình dáng như chiếc táchCác phế nang mới xuất hiện gần các túi phế nang do sự biến chuyển từ các tiểu phế quản tận có trước đó
Khoảng 8 năm sau đó Sự phát triển của phổi tiến tới bước gia tăng các phân chia (thế hệ) phế quản và tiểu phế quản, gia tăng phế nang và đường kính phế nang và bề mặt trao đổi khíLượng phế nang và đường dẫn khí tăng gấp 10 lần từ thời sơ sinh đến khi trưởng thànhBề mặt phổi gia tăng 20 lần. Số lượng phế nang là 300 triệu ở người lớn
Cho đến 40 năm sau Gia tăng phân chia thế hệ ở phế quản và tiểu phế quản tậnĐường kính phế quản và khí quản gia tăng

Hệ hô hấp nổi lên như một median ventral túi thừa của foregut được gọi là rãnh thanh khí quản vào giữa tuần thứ bốn của phôi. Đầu dưới của túi thừa chia thành hai búp phổi. Cuống giữa của túi thừa biến thành khí quản. Hai búp phổi sẽ phát triển thành cây phế quản và lớp lót biểu mô phổi. Búp phổi phải sẽ phát triển thành ba nhánh và búp phổi trái thành hai nhánh. Do đó mà búp phổi phải cuối cùng sẽ phát triển thành ba thùy và búp phổi trái thành hai thùy (Langman 1969)

Sự khác biệt về kích cỡ giữa hai phổi là do sự dịch chuyển sang trái của tim phôi của khoang màng phổi. Vị trí của tim tạo ra khuyết tim ở phổi trái. Các tỉ lệ tương quan của thanh quản và khí quản thay đổi theo từng thời kỳ từ phôi đến người lớn. Trong khi khí quản ngắn và hẹp, thì thanh quản lại khá lớn, và chỉ sau khi sinh được vài tháng, khi khí quản phát triển với tốc độ đã nhanh hơn thanh quản, thì hai cấu trúc này mới đạt được tỉ lệ như đã thấy ở người lớn.

Thanh quản trẻ sơ sinh không phải là hình ảnh thu nhỏ của thanh quản người lớn. Vị trí nằm trên cao tương đối của nó giúp cho trẻ mới sinh thở và nuốt đồng thời cho đến khoảng 3-4 tháng sau (Laitman và Crelin 1980). Khoang dưới thanh môn ở trẻ mới sinh dưới các dây thanh mở rộng ra sau và xuống dưới. Ở trẻ lớn hơn và người lớn, khoang này hầu như thẳng đứng. Một ống nội khí quản do đó không những phải nhỏ mà còn phải có hình dạng thích hợp với đường dẫn khí và được đưa vào đúng cách. Lớp lót niêm mạc của thanh quản trẻ sơ sinh sẽ bị phù dù chỉ có một chút kích thích và dòng không khí có thể dễ dàng bị cản trở.

Phổi là một cơ quan hạch (tuyến) không có khoang không khí trong giai đoạn bào thai và trở thành phát triển độc lập ở tuần thai 28 (Aver975). Trong giai đoạn bào thai, nhau là cơ quan trao đổi khí. Khi thông khí lúc sinh, một mạng lưới mạch máu mới thay thế mạng lưới mạch máu nhau thai. Sự thở của bào thai đã ghi nhận được ở động vật cũng như ở con người. Sự thở của bào thai được ghi nhận là một tình trạng ăn theo, chứ không là một nhu cầu duy trì nỗ lực hít vào sau khi sinh (Henderson Smart 1984). Do không có không khí, đường dẫn khí tương lai của bào thai tiếp xúc với một phần dịch màng ối, dịch này được hít vào trong những động tác hô hấp trong bào thai, và một phần chất tiết của các tuyến dưới niêm mạc và các tế bào hình đài của biểu mô phổi. Mặc dù các động tác hô hấp của lồng ngực có trong bào thai, nhưng các động tác này không phải là phương tiện trao đổi khí (Avery 1975). Trước khi sinh, cơ hoành có khả năng co mạnh dưới hình thức nấc cục.

Phổi lúc sinh

Sự chuyển đổi lúc sinh từ việc lệ thuộc vào sự trao đổi khí ở nhau thai sang thở là một sự kiện lớn. Sau khi sinh, các nỗ lực thở được điều tiết để đáp ứng các nhu cầu chuyển hóa (Henderson – Smart 1984), và điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm mức độ thuần thục của thần kinh. Hơi thở đầu tiên là một sự hổn hển, là một sự co thắt của cơ hoành có thể do được các thay đổi về xúc giác và  nhiệt độ kích hoạt nên (Avery 1975; Henderson – Smart 1984). Khi trẻ sơ sinh hít thở những hơi đầu tiên, thì từng phế nang một lần lượt mở ra theo thứ tự từ gần đến xa. Phổi căng phồng sau khi bé khóc chào đời, mặc dù trong vòng 7-10 ngày những vùng nhỏ ở phổi vẫn còn chưa căng. Khi trẻ hít hơi thở đầu đời, thì không khí sẽ thế chỗ chất dịch trong đường dẫn khí. Một số dịch đó sẽ đi ra ngoài miệng và mũi, nhưng hầu hết các chất dịch đó được phổi hấp thụ vào nhu mô và tuần tự được hệ bạch huyết dọn sạch.

Việc chuyển từ đường dẫn khí đầy chất dịch sang đường dẫn khí đầy chất khí là một nguyên nhân chính và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tử vong trong giai đoạn chu sinh đó là việc suy hô hấp khiến hoạt động hô hấp diễn ra không trọn vẹn. Việc chuyển đổi này thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào cả sự có mặt của chất hoạt diện phổi, tức chất phospholipid tiết ra từ các tế bào lót phế nang phổi. Chất hoạt diện làm giảm sức căng bề mặt trong phế nang, cho phép phế nang căng phồng mà chịu ít áp lực và trẻ sơ sinh không phải ra sức nhiều do thiếu chất hoạt diện. Trước khi hít hơi thở đầu đời, sức căng bề mặt của các phế nang hơi phẳng, làm cho thành phế nang dính lại với nhau. Do đó cần một nỗ lực rất lớn để làm cho các phế nang này phồng lên.

Khi không khí vào phế nang, chất hoạt diện nhanh chóng được tiết ra vào các khoang phế nang, tạo thành mặt phân giới giữa chất dịch trong đó với không khí mới vào. Chất hoạt diện duy trì sức căng thấp cho phế nang, và sự có mặt của chất hoạt diện cho phép lúc nào cũng có không khí trong phế nang, điều này giúp tránh xẹp đường dẫn khí.

Lúc mới sinh, số lượng phế nang không bằng với số lượng phế nang có ở người lớn, chúng cũng chưa phát triển hoàn toàn. Đường kính của phế nang lúc trẻ 2 tháng tuổi xấp xỉ 60 – 130 micromet, rồi tăng lên 100 – 200 miromet ở trẻ lớn hơn và ở người lớn đến 200 – 300 mircomet (Doershuk và cộng sự 1975). Tuy nhiên, đường dẫn khí có đường kính tương ứng lớn hơn và khoảng chết giải phẫu (anatomical dead space) tương ứng cũng lớn hơn ở người lớn. Đây là lý do tại sao khi đưa oxy vào lựa chọn đưa bằng đặt ống nội khí  quản được ưa chuộng hơn tent, làm cho khí đi thẳng vào biểu mô phổi do đó vượt qua được khoảng chết của đường dẫn khí.

Thành phế quản tương đối yếu cho đến khi bé được 3-4 tuổi là thời kỳ các cơ trơn phát triển. Yếu cấu trúc này có thể góp phần vào sự sụp đường dẫn khí ở trẻ rất nhỏ. Thêm vào việc thiếu chống đỡ thuộc cấu trúc ở đường dẫn khí nhỏ bé, thì sự thông khí qua lại thông qua pores of ống Kohn và Lambert bị hạn chế (Murray 1976). Điều này làm cho trẻ mẫn cảm dễ có khả năng mắc phải xẹp phổi và nhiễm trùng.

Kích cỡ nhỏ bé của đường dẫn khí và đường kính của phế quản tận khiến cho kháng lực dòng không khí trở nên cao và vận công lớn hơn khi thở. Tỉ lệ hô hấp ở trẻ em cũng khác so với ở người lớn (Hình 24.1), và dần dần xấp xỉ bằng tỉ lệ ở người lớn vào lứa tuổi đôi mươi.

Cũng có thể là sự mệt mỏi cơ bắp có thể dẫn đến suy hô hấp ở trẻ mới sinh (Muller và cộng sự 1979). Các sợi cơ co chậm loại I, là các sợi hiếu khí, chống mệt, không thấy ở cơ hoành người lớn và những cơ thở khác chỉ xuất hiện khi trẻ được 8 tháng tuổi. Cơ hoành của trẻ sinh non chứa ít nhất là 10% sợi cơ loại I, ở trẻ sơ sinh là 25% và ở người lớn là 50% (Keens và cộng sự 1978; Muller và Bryan 1979).

Do hậu quả của việc có tỉ lệ sợi cơ loại I thấp, nên cơ bắp mau mệt. Sự mệt mỏi của cơ hoành đã được ghi nhận là có xảy ra ở trẻ sinh non đang ngủ và ở trẻ có suy hô hấp (Muller và cộng sự 1979).

Cơ chế của sự thông khí                                        

Để hít khí vào phổi và tống khí đó ra, lồng ngực phải phồng lên và xẹp xuống. Sự tăng giảm thể tích lồng ngực xảy ra là do sự phối hợp co và kéo dài các sợi cơ đi qua lồng ngực. Cơ chế này là phức tạp và chưa hoàn toàn hiểu hết được.

Cơ hoành là cơ không thể thiếu được trong sự thông khí ở người lớn, mặc dù nó luôn hoạt động khi hô hấp lúc thức. Sự thông khí ở người lớn vẫn đầy đủ dù cho bị liệt cơ hoành là nhờ dùng các cơ hô hấp phụ hít vào và các cơ liên sườn (Steindler 1955), mặc dù hoạt động (của các cơ đó rất hạn chế. Tuy nhiên, cơ hoành là thiết yếu trong gây mê và ngủ sâu khi đó các cơ hô hấp khác không hoạt động (Kendig và Cernick 1977). Ở người bình thường, đó là các cơ hô hấp quan trọng nhất, sự hít vào bình thường lúc nghỉ có được là hầu như hoàn toàn nhờ sự co cơ hoành. Khi hít vào cơ hoành co và hạ xuống, đường kính chiều thẳng đứng của lồng ngực gia tăng. Giờ đây người ta đã công nhận là các cơ gian sườn làm lồng ngực có di chuyển (Loring và De Troyer 1985). Nhìn chung người ta hiểu rằng các cơ gian sườn ngoài và phần gian sụn của cơ gian sườn trong (các cơ gần xương ức) là cơ hít vào và nâng xương sườn lên, trong khi phần gian cốt của cơ gian sườn trong là cơ thở ra và hạ các xương sườn (Loring và de Troyer 1985). Sự co các cơ gian sườn ngoài kéo các xương sườn phía trên xuống và kéo các xương sườn phía dưới lên trên, do đó tạo thuận cho việc căng phồng của phổi khi hít vào. Lực kéo phía trên lồng ngực xuống của các cơ này được đối ứng bằng sự co cơ bậc thang. Khi hít vào gắng sức, thì cơ ức đòn chũm và cơ bậc thang co để nâng xương ức và xương sườn lên. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống để kéo phổi xuống rồi cơ nâng sườn và cơ trên móng dường như cố định thanh quản và khí quản.

Các cơ hô hấp phụ chưa được nghiên cứu mở rộng. Cơ trám và cơ răng cưa trước có thể có vai trò trong việc hít vào, cơ răng cưa dưới là cơ thở ra. Các cơ bụng, cơ chéo bụng trong, ngoài cơ ngang và thẳng bụng là cơ thở ra mạnh. Cơ chéo bụng và cơ ngang bụng kéo thành bụng vào trong và gia tăng áp lực trong ổ bụng. Tuy nhiên, cơ bụng cũng giúp hít vào. Bằng cách co, các cơ này kéo dài các cơ hít vào đến mức tạo thuận cho hoạt động. Các cơ này cũng dự trữ năng lượng đàn hồi ở thành ngực khi thở ra để rồi sử dụng ngay sau đó ở thì hít vào. Thêm vào đó, kháng lực đối với dòng không khí ở đường hô hấp trên giảm khi hít vào mạnh do sự dãn nở của hai lỗ mũi và do hoạt động của các cơ ở gò má, cơ bám da cổ (platysma) và của lưỡi.

Sự hít vào đòi hỏi nỗ lực cơ bắp để vượt qua kháng lực ở đường hô hấp và sự đàn hồi của phổi. Tuy nhiên, sự thở ra lúc nghỉ bình thường, được cho là một quá trình thụ động khi cơ hít vào thả lỏng và phổi co lại. Thành ngực thả lỏng dưới tác dụng của trọng lực và hai lá phổi đàn hồi thun lại co bên trong ngực. Các lớp chất hoạt diện lót ở thành phế nang giúp phế nang khỏi bị sụp cuối thì thở ra. Trong khi thở ra gắng sức hoặc thở ra khó khăn, các cơ thành bụng co mạnh, làm gia tăng áp lực trong bụng và do đó giúp nâng cơ hoành. Những cơ này là bộ phận tác động mạnh mẽ của sự thở ra gắng sức và được dùng nhiều trong khi ho.

Ho có thể là do dị vật hoặc chất tiết bị tích tụ kích thích vào các tận cùng thần kinh ở đường hô hấp gần. Cơ hoành và cơ gian sườn co, phổi đầy không khí, thanh môn đóng. Không khí được tống mạnh ra do cơ hoành buông lỏng và cơ bụng co mạnh, kết hợp với nắp thanh môn mở. Cơ hoành và cơ bụng, do đó, là thiết yếu để ho hữu hiệu. Sinh đờm là chức năng bình thường của cây phế quản và đờm do các tuyến khí phế quản tiết ra. Đó là hoạt động của các lông nhung trong phổi bình thường làm dịch chuyển lớp đờm mỏng lên trên đến chỗ đờm được ho ra ngoài. Mật độ các tuyến này dày đặc hơn trong mối tương quan với kích cỡ của bề mặt phế quản ở trẻ em. Ở trẻ sơ sinh cho đến khi trẻ được 4 tháng, thì đờm nhầy nhớt hơn so với đờm ở trẻ lớn và người trưởng thành.

Mẫu thở của trẻ cho thấy có những khác biệt về cơ chế so với mẫu của người lớn. Sự gióng trục tương đối ngang của lồng ngực, hình thù tròn của lồng ngực, tính sụn của khung xương lồng ngực và góc lồng vào ngang của cơ hoành tạo bất lợi cho cơ chế của cơ liên sườn và cơ thở phụ. Những yếu tố này khiến sự thông khí kém hiệu quả và gây khuynh hướng biến dạng hình dáng thành ngực khi hít vào. Do đó, ở trẻ mới sinh cơ hoành đặc biệt quan trọng cho việc thông khí, nhất là ở những ngày đầu đời. Vì khung xương lồng ngực có quá nhiều sụn đàn hồi và kém cứng rắn, nên việc co cơ thở phụ chẳng có tác dụng là bao. Do đó, lồng ngực của trẻ có khuynh hướng bị sụp vào phía trong (hóp vào) mỗi khi hít, đặc biệt là khi trẻ ngủ (Henderson – Smart và Read 1978). Hậu quả là bất kỳ thứ gì làm cản trở cử động của cơ hoành cũng sẽ gây nguy hiểm cho sự hô hấp. Ở trẻ sinh non, khuynh hướng này xảy ra nhiều hơn và có thể cản trở nghiêm trọng sự thông khí.

Tóm tắt

Sự phát triển của hai lá phổi trong giai đoạn phôi và thời kỳ trẻ mới sinh cùng với sự phát triển liên tục của phổi trong thời thiếu nhi được mô tả ngắn gọn, cũng như các cơ chế của sự thông khí. Điều quan trọng là nhà vật lý trị liệu hiểu được tiến trình phát triển đó để nhận thức được tầm quan trọng của các phương pháp điều trị vật lý trong điều trị và phòng ngừa các rối loạn hô hấp ở trẻ sơ sinh và thiếu nhi.

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s