Tật vẹo cổ

(bài đang hoàn thiện)

Những thuật ngữ vẹo cơ cổ và vẹo cổ bẩm sinh thường được dùng để chỉ ‘cổ nhăn’ có liên quan đến chứng xơ hóa cơ ức đòn chũm được phát hiện thấy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tình trạng này cần phân biệt với vẹo cổ có liên quan đến các nhân tố khác, dù cho đó là thuộc thần kinh (vẹo cổ do co thắt), thuộc cấu trúc (tật nửa đốt sống bẩm sinh) hay có liên quan đến bệnh quai bị.

Trẻ sơ sinh bị vẹo cổ nằm đầu gập sang bên này và xoay sang bên kia (H.19.1). Bình thường có thể xoay đầu trẻ mới sinh 180 độ từ bên này sang bên kia. Tuy nhiên ở trẻ bị vẹo cổ, có lẽ không thể xoay đầu trẻ theo hướng ngược lại qua khỏi đường giữa. Ở nhiều trường hợp, nhưng không phải trong tất cả các trường hợp, hạt cơ ức đòn chũm nhìn thấy rõ. Nếu có hạt này, thì nó được chú ý khi sưng kéo dài ở bụng cơ, nó luôn trở nên thấy rõ vào tuần thứ hai hay ba sau khi sinh, và luôn biến mất vào 5 hoặc 6 tháng tuổi (H.19.1). Sẽ luôn có một mức độ mất đối xứng ở mặt, và ở một số trường hợp có mất đối xứng sọ đủ nghiêm trọng để phát triển thành tật đầu nghiêng, mặc dù tật đầu nghiêng có mặt lúc sinh một phần trăm nhỏ ở các trẻ này. Sự mất đối xứng này có thể rất dễ thấy ở trẻ lớn hay trẻ nhỏ, khiến cho cha mẹ rất lo lắng.

Hình 19.1 Trẻ sơ sinh bị vẹo cổ bên trái và có hạt ở cơ ức đòn chũm trái

Bệnh sinh

Nguyên nhân bệnh sinh chưa được hiểu hết, nhưng đã có nhiều lý thuyết tiến bộ. Một giả thiết cho rằng tư thế sai của cổ trong tử cung gây thiếu máu cục bộ cơ ức đòn chũm (Adams và cộng sự 1962)

Sang chấn khi sinh là gợi ý điển hình (Suzuki và cộng sự 1984), và vẹo cổ được quan sát thấy là theo sau một ca đẻ ngôi mông (Ferguson 1968; Suzuki và cộng sự 1984). Suzuki và cộng sự (1984) phát hiện thấy rằng tư thế trong tử cung có gối và cột sống cổ duỗi hình như có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển vẹo cổ. Họ đề xuất rằng nguyên nhân trực tiếp có thể là việc kéo dãn cơ ức đòn chũm trong khi lâm bồn. Các tác giả cũng phát hiện thấy rằng 51% trong số 43 trẻ được nghiên cứu có liệt sản khoa và hầu hết những trẻ đó bị vẹo cổ một bên.

Tuy nhiên, thực tế là vẹo cổ cũng được phát hiện thấy ở trẻ sinh mổ caesarean (Coventry và Harris 1959) gợi ý một nguyên nhân trước khi sinh khác. Những nhân tố quen thuộc (Thompson và cộng sự 1986) và sự xảy ra đồng thời của vẹo cổ với những bất thường bẩm sinh khác, đặc biệt là loạn sản khớp hông (Weiner 1976; Canale và cộng sự 1982; Binder và cộng sự 1987), cũng đã trích dẫn. Jones (1968) mô tả chi tiết các lý thuyết khác nhau về bệnh sinh.

Bệnh nguyên

Có nhiều hoang mang về bệnh nguyên vẹo cổ. Jones (1968) chỉ ra rằng hầu hết những nguyên nhân phát hiện được là xơ hóa cơ ức đòn chũm có hoặc không có hạt. Ông cũng xem hạt đó là hiện tượng cục bộ hóa ở một cơ ức đòn chũm đã xơ hóa rồi.

Sanerkin và Edwards (1966) mô tả một sinh thiết họ thực hiện ở hai trẻ sơ sinh sinh non được hai ngày tuổi có hạt ức đòn chũm. Ở cơ này họ phát hiện thấy xuất huyết, rách và rã các sợi cơ kèm hoại tử ở một số sợi, và rách bao mô bọc sợi cơ. Rách bao này ở các động vật thí nghiệm dẫn đến phản ứng tăng sinh nguyên bào sợi.

Adams và cộng sự (1962) đã bình luận rằng khi bao mô cơ bị tổn hại, có sự tăng sinh mô sợi mà các mô sợi này cản trở sự tái tạo hiệu quả.

Chẩn đoán phân biệt

Ở tất cả trẻ sơ sinh bị vẹo cổ, mà đặc biệt là ở trẻ có hạt rõ ở cơ ức đòn chũm, các chẩn đoán sau sẽ được bác sĩ loại trừ:

  1. Nhiễm trùng sâu gây đau ở các tuyến làm trẻ ngoẹo đầu sang một bên.
  2. Bất thường trong chỉnh hình, ví dụ như bán trật khớp đội trục, hội chứng Klippel-Feil và tật nửa đốt sống bẩm sinh khiến tư thế của đầu bị nghiêng sang bên.
  3. Khiếm khuyết thị giác như tật song thị do lác mắt gây vẹo cổ do mắt.
  4. Tật đầu nghiêng, là tật hình dáng của đầu trẻ là do tư thế bất đối xứng chứ không do co rút thực sự ở cơ ức đòn chũm.
  5. Chấn thương não hoặc phát triển bất thường có thể là gợi ý [cho chẩn đoán] ở trẻ nhỏ có đầu và cổ xoay sang bên nhiều, đó có thể là một phần của phản xạ cổ bất đối xứng hoặc do giảm trương lực hoặc loạn trương lực.

Tiên lượng

Mặc dù hầu hết các ca vẹo cổ được quan sát thấy ở trẻ sơ sinh, nhưng thời điểm bắt đầu biến dạng này có lẽ phát triển hoặc trở nên nhìn rõ  ở bất kỳ tuổi nào trong giai đoạn tăng trưởng sớm. Sự chỉnh đúng xảy ra ở đa số trẻ sơ sinh có điều trị bảo tồn (kéo dãn và tập bài tập) lúc 12 tháng tuổi.

Binder và cộng sự (1987) đề xuất rằng vật lý trị liệu đặc thù là cần thiết nhìn chung ở những ca nhẹ nhất và dẫn đến những kết quả về thẩm mỹ và chức năng tuyệt vời, thậm chí khi vẹo cổ hơi nặng. họ đề xuất rằng, những dự đoán then chốt về kết quả tốt sau điều trị bảo tồn, là mức độ nghiêm trọng của vẹo cổ và tuổi bắt đầu điều trị. Tuy nhiên Canale và cộng sự (1982) đã báo các có những kết quả xấu từ những phương pháp điều trị bảo tồn ở trẻ bị mức độ vừa đến nặng. Leung và Leung (1987), sử dụng những tiêu chuẩn đã bổ sung của Canale và cộng sự, đã báo cáo những những kết quả mỹ mãn ở 90% đối tượng, mặc dù họ ghi nhận rằng đầu vẫn nghiêng ở 42% số đối tượng và kết quả xấu về thẩm mỹ. Những kết quả khác biệt có lẽ phản ánh tốt kiểu liệu pháp điều trị bảo tồn tùy từng trung tâm khác nhau.

Nếu vẫn còn co rút, như đã diễn ra ở một bộ phận nhỏ trẻ, hoặc lần đầu tiên được quan sát thấy ở trẻ lớn, thì phẫu thuật viên thực hiện thủ thuật cắt gân cơ ức đòn chũm và mô mềm bị cứng xung quanh. Thủ thuật này thường không thực hiện trước 1 tuổi, và trước đó được điều trị bảo tồn đến khi 1 tuổi. Phẫu thuật thường mang lại kết quả tốt đẹp ở hầu hết các ca.

Một khi vị trí của đầu đã được chỉnh sửa thì sự mất đối xứng ở mặt tự tiêu tan. Đầu trẻ định hình bình thường một khi nó đã được xoay tự do từ bên này sang bên kia. Cha mẹ, thường rất sốt ruột về tật này, có thể được làm yên tâm.

Việc điều trị

Sự lượng giá

Sự lượng giá ban đầu được nhà vật lý trị liệu thực hiện như sau.

Tổng trạng chung của trẻ được ghi lại, đặc biệt là vị trí của đầu trong mối tương quan với thân và các chi. Sờ xem có sự xuất hiện và phạm vi của hạt cơ ức đòn chũm. Tầm vận động của cổ được thử thụ động bằng cách di chuyển đầu trẻ theo các hướng và thu hút sự chú ý của trẻ để lượng giá mức độ chỉnh đúng chủ động có thể đạt được.

Thước đo Myron có thể được dùng để đo tầm vận động thụ động của nghiêng bên và xoay cổ để tiến bộ khách quan được lượng giá và lưu hồ sơ. Vì áp lực do người thử vận ra có thể thay đổi khác nhau theo từng đợt thử, khiến cho các phương pháp đo khớp không chính xác, cần phải cẩn thận trong thử thụ động để đặt đầu trẻ nhẹ nhàng vào cuối tầm và không được đặt áp lực quá mức. Nhà vật lý trị liệu nên lưu ý bất kỳ biểu hiện đau khi cử động nào hay khi sờ hạt (trên cơ). Mức độ bất đối xứng mặt và sọ được lượng giá với đầu trẻ ở vị thế trung tính mặt hướng lên.

Phát triển chung phải được kiểm tra tổng quát, chú ý đặc biệt bất kỳ bất đối xứng nào còn tồn tại của chi và thân, bất kỳ phản xạ bất đối xứng hay bất thường nào, ví dụ như phản xạ trương lực cổ bất đối xứng, hoặc phản xạ Moro bất đối xứng, phản xạ Galant hoặc phản xạ nắm. Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào về sự phát triển hay tiến bộ, thì nên báo cáo với bác sĩ của trẻ, và thực hiện lượng giá kỹ lưỡng hơn. Tiến trình này đặc biệt cần ở những trẻ không có bệnh sử hạt cơ ức đòn chũm. Nhà vật lý trị liệu đôi khi sẽ phát hiện thấy những dấu hiệu bất thường về thần kinh hoặc những bất thường cơ xương khớp trên phạm vi rộng hơn ở những trẻ được gởi điều trị về cái trông như là vẹo cổ và quan trọng là những phát hiện này được thông báo cho bác sĩ biết để việc điều trị cho những dấu hiệu có thể là bệnh bại não hoặc một số rối loạn khác được bắt đầu sớm.

Lý luận lâm sàng đối với việc điều trị

Khó mà đặt ra một phương pháp cho việc điều trị bảo tồn trong khi bản chất tiến trình bệnh nguyên vẫn còn quá mơ hồ. Tuy nhiên, rõ ràng là việc điều trị nên được đặc biệt hướng đến sự đảm bảo độ duỗi hoàn toàn cho cơ ức đòn chũm bị ảnh hưởng cùng các cơ cổ và mô mềm lân cận, và ngăn ngừa sự thích nghi bất đối xứng của sọ, mặt, mắt và thân. Ở trẻ nhỏ có hạt ức đòn chũm nhưng nhỏ hoặc không có co rút cơ ức đòn chũm, mục đích của việc điều trị là để ngăn ngừa, bằng cách kích thích vận động chủ động hết tầm của cổ, sự co rút của cơ có lẽ là hậu quả của sự xơ hóa các sợi cơ ở các vùng lân cận quanh hạt. Khi sự co rút đã hình thành, thì mục tiêu là đạt được tầm độ vận động hoàn toàn của cột sống cổ bằng cách kéo dài cơ ức đòn chũm và khuyến khích bản thân trẻ chỉnh đúng chủ động. Luôn không cần thiết dùng nẹp để giữ đầu trẻ vào vị thế đúng. Tuy nhiên, trẻ bị tật đầu nghiêng có thể cần nẹp bằng một bộ mũ và áo (H.19.8) trong thời gian ngắn để ngăn ngừa đầu lật sang bên bề mặt bị dẹp.

Thủ thuật kéo dài cơ thụ động

Kỹ thuật

Trẻ được đặt ngửa trên một bề mặt lót đệm, bên bị tật ở xa nhà vật lý trị liệu, nhà vật lý trị liệu ngồi đối diện bàn, bế đỡ chân và thân trẻ trên một tay. Bàn tay này vai, bằng cách đó cố định điểm bám của cơ ức đòn chũm vào xương ức và đòn và cho phép đầu gập sang bên để thực hiện kéo dãn. Tay kia giữ đầu trẻ, cẩn thận kẻo ép vào tai trẻ, và kéo nó gập sang bên càng nhiều càng tốt (H.19.2). Việc kéo dãn này được lặp lại, lần này kết hợp với xoay đầu (H.19.3). Việc xoay đầu nên được cha mẹ khuyến khích, bằng cách đứng sang bên nói chuyện với trẻ.

Các đợt kéo dãn nên được thực hiện như một động tác, với động tác xoay và gập sang bên hợp lại, như đã mô tả ở trên. Tuy nhiên, người ta đề xuất là gập sang bên nên được thực hiện như một động tác kéo dãn riêng rẽ, vì nó tạo cho bé được thư giãn khỏi động tác xoay, là động tác thường rất khó chịu, mà vẫn cho phép cơ được kéo dãn ở mức độ nào đó. Người ta đôi khi cũng đề xuất là việc gập cổ cũng nên được bổ sung vào phần kéo dãn thụ động (Hulbert 1950; Canale và cộng sự 1982)

Hình 19.2

Hình 19.2 Kéo dài cơ ức đòn chũm bên phải bằng cách nghiêng đầu sang bên

Hình 19.3

Hình 19.3 Kéo dài cơ ức đòn chũm bên phải bằng cách nghiêng bên và xoay

Tuy nhiên, sự bất tiện có thêm tạo cho trẻ, đặc biệt nếu có một hạt cơ ức đòn chũm to, làm cho sự cộng thêm yếu tố gập không cần thiết.

Những tác giả khác (Behrman và Vaughan 1987) đề xuất rằng cổ bị duỗi, xoay và nghiêng bên. Không chắc các yếu tố duỗi sẽ bổ sung bất kỳ sự kéo dãn nào cho cơ đang được kéo và việc duỗi cổ thụ động có trước đó, thậm chí với đôi bàn tay nhiều kỹ năng, cũng có một yếu tố nguy cơ đối với cột sống cổ, việc này khó mà được cho là đúng và có thể chống chỉ định.

Phòng ngừa

Người ta đã chú ý thấy ở một số trẻ là hạt cơ ức đòn chũm dường như là đau trong vài tuần đầu sau khi sinh; trẻ khóc khi nốt sưng được sờ thấy hoặc khi cơ được kéo dãn. Do đó cổ nên được thao tác nhẹ nhàng, và việc kéo dãn nên được làm với việc giảm tối đa sự khó chịu cho trẻ.

Nhà vật lý trị liệu không cần phải kéo dãn tối đa lên cơ ngay lập tức, thay vào đó nên di chuyển đầu cho đến khi trẻ đề kháng lại động tác, sau đó chờ cho cơ thư giãn, là khi có thể di chuyển xa thêm một ít nữa. Điều chắc chắn không cần thiết là giữ cơ ở vị thế kéo dãn trong khi trẻ khóc lóc và chống cự. Nếu trẻ sắp khóc, thì chùng sự kéo dãn một chút, để cho phép trẻ cử động. Có thể kêu gọi sự giúp đỡ của cha mẹ khi làm trẻ bình tĩnh và phân tán, sau đó lại tiếp tục kéo dãn. Bằng cách làm như thế thì một đợt kéo dãn 5 phút có thể phải kéo dài hơn, nhưng sự kéo dài đó là đáng làm vì trẻ sẽ khá bằng lòng và không sợ hãi. Hơn nữa, nếu kéo dài một cơ đang co mạnh có lẽ là không hiệu quả.

Vai bên cơ co rút phải được giữ nhẹ nhàng trên giường, không được ép ấn xuống. Kéo mạnh một cái ở đầu và đai vai có thể gây lực kéo dãn đủ để làm tổn thương đám rối thần kinh cánh tay.

Việc kéo dãn không nên tiếp tục khi trẻ khóc và tím tái. Ở một số trẻ có hạt cơ ức đòn chũm lớn sẽ ép vào các mạch máu ở cổ khi xoay cổ, gây ra đau và tím tái. Với những trẻ này, độ xoay đạt được nên từ từ gia tăng khi hạt nhỏ đi.

Gần đây Leung và Leung (1987) đã xuất bản những kết quả theo dõi 206 trẻ có vẹo cổ điều trị bảo tồn, gồm kéo dãn cơ, gọi là thao tác tay. Các tác giả báo cáo là 15% trẻ chịu những biến chứng: rách cơ ức đòn chũm, bầm tím, gãy xương đòn.

Thời gian kéo dài cơ thụ động

Mỗi lần kéo làm nhiều đợt mỗi ngày trong 5 phút, nhưng có lẽ lâu hơn nếu trẻ được phép bế đi loanh quanh và nếu nhà vật lý trị liệu cố gắng làm trẻ thư giãn và vui vẻ. Nên để nhà vật lý trị liệu điều trị cho trẻ nhiều lần trong vài tuần đầu tiên trước khi cha mẹ thấy tự tin về khả năng của mình tiếp tục việc điều trị ở nhà, còn nhà vật lý trị liệu sẽ giám sát mỗi hai tuần hoặc mỗi tháng.

Chỉnh đúng chủ động

Trước hoặc sau khi kéo dãn thụ động, nhà vật lý trị liệu chỉ cho cha mẹ cách chơi với trẻ để khuyến khích các động tác chủ động hết tầm của cổ và đầu (H. 19.4) và để đạt được việc dãn của các cơ cổ.

Hình 19.4

Hình 19.4 Một phương pháp kéo dài cơ ức đòn chũm bên phải có thể thực hiện bằng cách chơi với trẻ.

Khi sự kiểm soát đầu phát triển đến vị thế thẳng đứng, việc chỉnh đúng sự nghiêng bên của đầu được kích thích bằng cách di chuyển trẻ để khuyến khích việc xoay và nghiêng bên. Việc xoay được tập khi trẻ nằm sấp và ngửa, cũng như ở vị trí thẳng đứng. Khi trẻ được nghiêng sang bên, đầu trẻ sẽ được xoay và nghiêng bên, đặc biệt nếu có thêm kích thích là gương mặt của cha mẹ về phía bên đó (H. 19.5). Một khi đầu đã được xoay về đường giữa, trẻ có thể được đặt nằm sấp có treo những đồ chơi nhiều màu sắc sặc sỡ ở một bên để thu hút sự chú ý, và cha mẹ có thể nói chuyện với em ở bên này. Có những cách khác nữa thao tác trẻ để đạt được sự chỉnh đúng chủ động và nhà vật lý trị liệu nên khai thác điều này với từng trẻ cụ thể.

Ý kiến của các tác giả cho rằng việc điều trị nên chỉ bao gồm những kỹ thuật tập luyện đầu và cổ này, việc kéo dãn thụ động cơ ức đòn chũm được thực hiện khi trẻ được bế và di chuyển loanh quanh. Tuy nhiên, giá trị của việc kéo dãn thụ động như đã mô tả ở trên vẫn chưa được đo lường so với việc kéo dãn chủ động và việc này nên được khảo sát nhiều hơn.

Cần phải nhấn mạnh rằng các phương pháp khuyến khích tầm độ vận động chủ động hết tầm cần được cha mẹ tập luyện với trẻ bị hạt cơ ức đòn chũm, chứ không phải chỉ với những trẻ được xác nhận là vẹo cổ.

Điều trị tại nhà

Điều quan trọng là nhà vật lý trị liệu nói chuyện với cha mẹ trẻ trong lần thăm khám đầu tiên, và giải thích không chỉ mục tiêu của việc điều trị, mà còn những phương pháp thực hiện việc điều trị trên thực tế tại nhà càng vui vẻ càng tốt. Rủi thay, ở những khoa đông bệnh nhân, bệnh vẹo cổ có thể được coi là không quan trọng, và sự sốt ruột của gia đình trẻ có thể bị xem nhẹ. Một số phụ huynh căng thẳng khi bế con mình và có thể khi họ không có nhà vật lý trị liệu bên cạnh, họ rất sốt ruột về việc kéo dãn cơ ức đòn chũm và việc đòi hỏi họ tập để làm việc kéo dãn đó ở nhà (Davids 1989).

Cha mẹ trẻ được dạy cách kéo dài cơ ức đòn chũm, và cách khuyến khích các động tác cần thiết. Cha mẹ nên diễn tập kéo dãn và các bài tập mỗi khi nhà vật lý trị liệu đến thăm khám cho đến khi chắc chắn là họ đã tự tin và khéo léo. Cha mẹ cần sự thông hiểu, vì có thể họ nghĩ rằng họ sẽ làm tổn thương bé khi họ kéo dãn, và nếu trẻ khóc, nỗi sợ của họ hóa thành hiện thực. Nếu phần điều trị này trở nên quá căng thẳng thì có lẽ nên ngưng kéo dãn để nhấn mạnh vào việc chỉnh đúng chủ động.

Ở một số hiếm trường hợp cha mẹ phản ứng bằng cách kéo dãn quá mức đến nỗi làm tổn thương trẻ và một vòng tròn luẩn quẩn sớm phát triển là trẻ khóc trước khi đợt kéo dãn bắt đầu. Trong trường hợp này tốt hơn là nếu việc kéo dãn bị loại khỏi các việc làm thường lệ, và khi trẻ quen hơn với nhà vật lý trị liệu, hoặc nếu không thì phần điều trị này một lần nữa có lẽ cần phải được ngưng lại toàn bộ.

Cha mẹ được khuyến khích tập cho bé ít nhất ba lần mỗi ngày, mỗi lần 10 phút, và biến những lần tập đó thành những lần chơi đùa và trò chuyện. Một dụng cụ cơ động (ví dụ lá nhôm phản chiếu được ánh sáng) treo phía trên đầu và những đồ chơi khác, sẽ giúp trẻ vui và kích thích đủ những cử động cần thiết của đầu.

Làm thế nào để chương trình điều trị khớp với lịch sinh hoạt hàng ngày là việc của ba mẹ. Nếu trẻ bú bình, bình sữa có thể được đưa cho bé theo cách để kích thích sự xoay đầu chủ động. Tuy nhiên, tốt hơn là không nên đặt thời gian thực hiện các động tác thụ động quanh giờ ăn. Nếu các động tác này gây đau hoặc khó chịu cho bé, thì không cần phải làm cho giờ ăn cũng trở thành cực hình, vì trẻ sớm học được sự liên hệ việc ăn uống với sự khó chịu trong các động tác thụ động.

Nếu trẻ phản ứng xấu với việc kéo dãn như đã mô tả ở trên, một phương pháp khác có thể được sử dụng. Trẻ được bế bên lành ở trên, mặt nhìn vào gương. Vai và đầu được giữ giống như ở lần kéo dãn đầu tiên, nhưng lần này trọng lượng cơ thể của bé được dùng để kéo dãn. Lợi thế của phương pháp này là trẻ có thể dịch chuyển nhẹ nhàng và được khuyến khích thư giãn, khiến việc kéo dãn cơ ức đòn chũm dễ dàng hơn mà không bị quá khó chịu. Cái gương phục vụ hai mục đích. Thứ nhất trẻ có thể nhận ra mình và nếu trẻ quá bé không thể nhận ra mình thì ánh sáng ở gương có thể thu hút sự chú ý của bé. Gương cũng có thể tạo thuận cho cha mẹ nhìn rõ vị thế của trẻ. (H. 19.6). Trẻ có thể được bế đi vòng quanh nhà và vườn theo cách này, làm gia tăng thời gian vào việc tạo cơ hội để kéo dài các cơ bị co ngắn.

Phương pháp kéo dãn cơ ức đòn chũm khi bế trẻ

Phương pháp kéo dãn cơ ức đòn chũm khi bế trẻ

Khi trẻ trong nôi, đồ chơi hoặc miếng nhôm có màu sắc sặc sỡ có thể được treo đằng trước và ở một bên để khuyến khích trẻ nhìn xung quanh và với tay ra. Nôi nên được đặt ở nơi mà trẻ có thể trông thấy những gì đang diễn ra trong phòng. Trẻ nên được bế theo cách có thể kích thích việc xoay đầu theo hướng ngược với vị thế bất thường và có thể được cho ăn theo vị thế giống như vị thế đã gợi ý trong kéo dãn (H.19.7)

Một cách nữa để bế trẻ bị vẹo cổ bên phải

Một cách nữa để bế trẻ bị vẹo cổ bên phải

Nẹp mũ và áo

Lý luận

Trong hầu hết các trung tâm, phương pháp này không còn được sử dụng trừ những trường hợp ngoại lệ cho những trẻ có hộp sọ bất đối xứng nghiêm trọng, ở trường hợp này nó hữu ích để tối ưu hóa sự tạo hình cho đầu. Ở hầu hết trẻ bị vẹo cột sống cổ, giá trị của nẹp này còn đang nghi vấn. Nó được cho là giữ đầu trẻ ở vị thế đúng, và ở mức độ nào đó nó có giữ được, nhưng người ta nghi ngờ rằng lượng chỉnh đúng đạt được có đáng để bù cho sự buồn bực mà cha mẹ phải chịu khi chứng kiến sự bất thường bày ra trước mắt mình như thế. Lợi thế của nẹp này là nó khiến cho trẻ nhìn về hướng cơ bị co ngắn mà nếu không nẹp thì trẻ sẽ không nhìn, nhưng tốt hơn là việc nhìn theo hướng nên đạt được bằng các phương pháp chủ động hơn nếu có thể. Mũ đội đôi khi được làm tuân theo y lệnh của phẫu thuật viên sau một thủ thuật cắt gân cơ ức đòn chũm, được đội một thời gian ngắn cho đến khi trẻ có thể giữ đầu ở vị thế đối xứng (H. 19.8). Nếu không thì mang một cái nẹp cổ mềm sau phẫu thuật vài tuần để ngăn trẻ trở lại vị trí bất đối xứng theo thói quen của đầu.

Nẹp kiểu mũ và áo. Ngoài ra áo có thể ghim vào tã của trẻ

Nẹp kiểu mũ và áo. Ngoài ra áo có thể ghim vào tã của trẻ

Vật liệu

Mũ đội được làm bằng vải làm đai và có thể được giữ vào chỗ bằng dây đai không gây dị ứng. Nó phải vừa khít với hoặc sẽ trượt ra khỏi đầu. Ba sợi dây đai được đính vào. Hai dây phía trước kiểm soát vị thế của đầu và dây phía sau ngăn không cho mũ bị kéo xuống về phía trước. Miếng Velcro được đính vào áo, hai miếng phía trước và một miếng phía sau. Miếng Velcro phía trước được đính vào sao cho đạt được sự chỉnh đúng tốt nhất cùng với hai miếng kia một miếng phía trước và một miếng phía sau tai. Loại chỉnh đúng cần đạt có thể thay đổi được bằng cách thay đổi vị thế của miếng Velcro và do đó thay đổi được vị thế dây đai. Cái khóa cho dây đai phía sau được đặt ở bất kỳ nơi đâu ở giữa áo; chức năng của nó đơn giản là để ngăn không cho mũ bị kéo xuống phía trước.

Điều trị phẫu thuật

Nếu co rút vẫn còn dù đã điều trị bảo tồn và nếu trẻ lớn hơn 1 tuổi, một phẫu thuật để giải phóng cấu trúc bị co cứng có thể là cần thiết (Morrison và MacEwen 1982). Phẫu thuật này thường được thực hiện ngay trên chỗ bám của cơ trên xương đòn. Sharrad (1971) và Lloyd-Roberts và Fixsen (1990) mô tả những tiến trình này.

Vật lý trị liệu hậu phẫu

Ngay sau phẫu thuật, trẻ nằm không gối, chêm túi cát để ngăn đầu trở lại vị trí bất đối xứng. Phẫu thuật viên có lẽ cho mang bộ nẹp mũ và áo hoặc đai cổ mềm cho đến khi trẻ có thể giữ đầu ngay đường giữa.

Sự chỉnh đúng chủ động bắt đầu khoảng 36 giờ sau phẫu thuật, với mục tiêu là duy trì chiều dài đã đạt được trong phẫu thuật. Trẻ đủ lớn để hợp tác thì có thể được trợ giúp bằng cách dịch chuyển đầu nghiêng bên và xoay càng xa càng tốt. Tầm độ vận động hết tầm của cổ có thể thường xuyên tập được bằng cách này mà không cần phải dùng những quy trình làm dài thụ động. Nằm ngửa, với người kỹ thuật viên giữ đầu và vai, trẻ cố gắng dịch chuyển đầu càng xa càng tốt chống lại lực đề kháng nhẹ nhàng của nhà trị liệu mà không gây đau. Nhà trị liệu trợ giúp giữ đầu ở vị trí này cho đến khi trẻ sẵn sàng thử dịch chuyển đầu xa hơn tí nữa. Hai động tác này có thể được thực hiện riêng rẽ. Bằng các lần thử chỉnh đúng chủ động này, với kết quả là mang lại sự thoải mái và sự kéo dài cơ ức đòn chũm, thì tránh được sự kéo dãn thụ động gây đau chống lại lực đề kháng của một em bé đang lo hãi. Những động tác này phải được thực hiện nhẹ nhàng vì những đường may chưa được rút chỉ sau vài ngày nữa, và thẩm mỹ của một vết sẹo liền tốt là quan trọng.

Sau phẫu thuật, giường, ghế và ti vi của trẻ phải được đặt ở vị trí trong phòng sao cho đầu xoay theo hướng cần.

Ngay khi trẻ được phép ra khỏi giường, nhà trị liệu tạo các bài tập và trò chơi để đạt được tầm độ vận động hết tầm của đầu và cổ ở vị thế thẳng đứng. Luôn luôn là không có khó khăn gì khi vượt qua những nhân tố xoay của tật vẹo cổ, trừ phi trẻ có khiếm khuyết về thị giác, vì gương mặt sẽ được mang ra trước càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nhân tố nghiêng bên có lẽ tồn tại dai dẳng hơn.

Cảm giác đầu thẳng có thể được tăng thêm ở trẻ lớn nếu, khi ngồi trên ghế đẩu trước gương, trẻ kéo dãn cao lên trên kháng lại áp lực mạnh của tay nhà vật lý. Trẻ cũng có thể thích tập đi với một vật giữ thăng bằng trên đầu .

Nếu trẻ vẫn giữ đầu nghiêng sang bên mặc cho đã điều trị, thì khả năng xem xét có một khiếm khuyết thị giác mắc phải; điều này có lẽ chỉ trở nên rõ ràng khi đầu được giữ ở vị trí ngược lại. Ở trường hợp này trẻ nên được gởi trả lại cho bác sĩ để kiểm tra.

Tóm tắt

Vẹo cổ là một rối loạn mà bệnh nguyên bệnh sinh chưa được hiểu hết. Hiệu quả của điều trị vật lý trị liệu cho trẻ có biến dạng này nhìn chung chấp nhận được (Binder và cộng sự 1987), mặc dù công bằng mà nói kiểu vật lý trị liệu trẻ được nhận có thể quyết định mức độ thành công. Việc nhấn mạnh lên phương pháp điều trị bảo tồn là nhấn mạnh trên sự giải thích tỉ mỉ các kỹ thuật kéo dài thụ động cho cha mẹ hiểu, cộng với thảo luận các phương pháp cha mẹ có thể khuyến khích sự chỉnh đúng chủ động. Các động tác thụ động không nên để trẻ nổi đóa và kiệt sức, hay khiến cha mẹ thấy tội lỗi và lo hãi, mà phải được thực hiện nhẹ nhàng, cho trẻ thời gian để quen với cách được thao tác. Vật lý trị liệu sau phẫu thuật là cần thiết và sự kết hợp hai hình thức này luôn luôn là hiệu quả.

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não, Chấn thương chỉnh hình, Nẹp and tagged , . Bookmark the permalink.

Có 12 phản hồi tại Tật vẹo cổ

  1. Thuy Hang nói:

    Bé nhà mình đang bị vẹo cổ, khám ở BV Nhi đồng thấy rất qua loa. Mong tác giả cho lời khuyên giúp mình xem mình nên bé đi khám những gì và ở đâu? Cảm ơn tác giả.

  2. Vo thi tuyet hang nói:

    Con tôi nay 7 tuôỉ.cháu bị vẹo cổ đã tập vật lí trị liệu nhưng ko bớt.cháu đã phâủ thụât lúc 3 tuổi.nhưng chỉ bớt thôi.chứ ko hết.Cháu 7 tuổi rôì còn khản trị nưả ko thưa bsĩ.

  3. KTV nói:

    chị Mộng Chè đang công tác ở đâu vậy ạh

  4. Kim Hong nói:

    Bé nhà Tôi nay được 8 tháng nhưng bị bị vẹo cổ bên trái, Tôi cho bé năm nghiên bên phải vài tuần thì bé lại bị vẹo qua phải, và cứ vẹo qua vẹo lại như vậy có phải bị tật vẹo cổ hay không? hay do cổ bé chưa cứng ah thưa bác sĩ.

  5. xin tư vấn và địa chỉ chữa bệnh hiệu quả nhất nói:

    bé nhà tôi hiện ngay gần 8 tháng tuổi, bị vẹo cổ bên phải do tư thế ngôi thai (thai ngôi mông) không bị u sơ vùng chũm, đã cho chữa ở viện nhi TƯ từ lúc 3 tháng tuối đến giờ vẫn chưa đỡ nhiều, hôm trước đi chụp phim đốt sống cổ thấy có vẻ cong hơn. không biết giải quyết cách nào nữa. xin các bác sỹ tư vấn giúp

    • Mộng Chè nói:

      Vẹo cổ tư thế không u xơ cơ ức đòn chũm thường có tiên lượng tốt. Can thiệp bằng các bài tập mạnh cơ, không dùng các biện pháp xâm lấn. Cần có bài tập tác động đúng cơ cần cải thiện sức mạnh thường có kết quả tốt.

  6. Điều trị vẹo cổ bẩm sinh nói:

    Con tôi bị vẹo cổ bẩm sinh, năm nay đã 20 tuổi, tôi muốn đưa cháu đi phẫu thuật nhưng không biết cho chau phẫu thuật ở đâu, bác nào biết chỉ giùm nhé

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s