Bàn chân – các khớp và dây chằng ở cổ chân

(bài dịch đang hoàn thiện)

(sửa lần 3 ngày 4/1/2013)

Khớp cổ chân là khớp hoạt dịch,  gồm xương sên của bàn chân và mộng chày, mác của cẳng chân.

Khớp cổ chân chủ yếu cho phép bàn chân gập mặt lưng mặt lòng bàn chân kiểu ròng rọc khi cẳng chân cố định.

Đầu xa xương mác neo chặt vào đầu xa lớn hơn của xương chày  bằng một gân khỏe. Hai thành phần này tạo thành một ổ khớp hình dấu ngoặc vươn xuống dưới ôm lấy thân xương sên:

  • Mặt mái vòm của ổ khớp được cấu tạo bởi mặt trong của đầu xa xương chày;
  • Mặt trong của ổ khớp được cấu tạo bởi mắc cá trong xương chày;
  • Mặt ngoài dài hơn của ổ khớp được cấu tạo bởi mắc cá ngoài xương mác.

Các diện khớp phụ được bao phủ bởi lớp sụn trong.

Hình 6.96 Khớp cổ chân. A. Nhìn từ trước khi bàn chân gập mặt lòng. B. Giản đồ của khớp. C. Nhìn từ trên xương sên để bộc lộ hình dáng của diện khớp

Phần khớp phụ của xương sên có hình dáng như nửa hình trụ ngắn bịt đầu nằm trên một mặt bằng với một đầu hướng ra ngoài còn đầu kia hướng vào trong. Mặt cong lên trên của nửa hình trụ đó và hai đầu được bao bọc bởi lớp sụn trong và vừa khít với ổ khớp hình dấu ngoặc do đầu xa xương chày và xương mác hợp thành.

Khi được nhìn từ phía trên, diện khớp xương sên phía trước rộng hơn phía sau. Do đó, nó khớp chặt hơn với ổ khớp khi bàn chân gập mặt lưng, là khi diện rộng hơn của xương sên di chuyển vào khớp cổ chân hơn là khi bàn chân gập mặt lòng là khi diện hẹp hơn ở trong khớp đó. Vì vậy, khớp này vững nhất khi bàn chân gập mặt lưng.

Khoang khớp được bao bọc bởi một màng hoạt dịch, dính vào rìa của diện khớp, và màng sợi vốn bọc luôn màng hoạt dịch và nó cũng được đính với các xương liền kề.

Khớp cổ chân được cố định bởi dây chằng trong (deltoid) và dây chằng ngoài.

Trên lâm sàng

Gãy xương sên

Xương sên là một xương dị thường vì nó hóa xương từ duy nhất một trung tâm cốt hóa sơ khai vốn khởi thủy xuất hiện ở cổ xương. Mặt sau của xương sên xem ra là nơi cốt hóa cuối cùng, thường xảy ra ở tuổi dậy thì. Ở trên 50% số người có một cục xương phụ nhỏ ở phía sau lồi củ ngoài của mỏm sau. Bề mặt xương sên có tới xấp xỉ 60% sụn khớp bao phủ và chẳng có gân hay cơ nào trực tiếp bám vào nó cả.

Một trong những khó khăn khi gãy xương sên là nguồn máu cung cấp đến xương dễ bị tổn thương đối với hư hại. Nguồn cung cấp máu chính cho xương đi vào xương sên thông qua ống cổ chân từ một nhánh của động mạch chày sau. Mạch máu này cung cấp máu cho đa phần cổ và thân xương sên. Các nhánh động mạch lưng bàn chân đi vào mặt trên của cổ xương sên và cung cấp cho phần trên của đầu và cổ xương, các nhánh động mạch của xương mác cung cấp một phần nhỏ cho bờ ngoài xương sên.

Gãy cổ xương sên thường làm gián đoạn nguồn cung cấp máu đến xương, vì thế làm cho mặt sau của xương dễ bị hoại tử xương, đến lượt nó lại dẫn đến viêm xương khớp mãn và buộc phải phẫu thuật lớn.

Gãy phần giữa bàn chân

Những vết gãy phần giữa bàn chân là không thường gặp. Thường xảy ra khi chịu sức nặng hay rơi ngã chịu lực ở bàn chân hoặc bị xe cán lên. Phim thẳng x quang thường là đủ để cho thấy những trật và gãy loại này.

Dây chằng trong2
Dây chằng trong to, khỏe (H. 6.97) và có hình tam giác. Đỉnh dính lên trên vào mắc cá trong, đáy rộng dính vào đường bên dưới trải rộng từ lồi củ xương ghe phía trước đến lồi củ trong xương sên phía sau.Dây chằng trong chẻ ra thành bốn phần phụ dựa theo những điểm bám bên dưới của chúng:

  • Phần dính vào mặt trước lồi củ xương ghe và gờ phụ của dây chằng gan chân gót-ghe, dây chằng này nối xương ghe với mỏm chân đế xương gót phía sau, là phần chày ghe của dây chằng deltoid (tam giác);
  • Phần chày gót, là phần nằmgần tâm hơn, đính vào phần mỏm chân đế xương gót;
  • Phần chày sên sau, đính vào bờ trong và lồi củ trong của xương sên;
  • Phần thứ tư (là phần chày sên trước) nằm sâu trong phần chày ghe và chày gót của dây chằng bên trong và đính vào diện khớp trong của xương sên.

Dây chằng ngoài

Dây chằng ngoài của cổ chân được cấu tạo bởi ba dây chằng riêng rẽ, dây chằng sên mác trước, dây chằng sên mác sau và dây chằng gót mác (H.6.98)

  • dây chằng sên mác trước là một dây chằng ngắn, đính vào gờ trước mắc cá ngoài đến vùng cạnh xương sên;
  • dây chằng sên mác sau là một dây chằng ngắn, chạy ngang ra sau vào trong từ bờ trong hõm mắc cá ngoài đến mỏm sau xương sên;
  • dây chằng gót mác đính từ trên hõm mắc cá đến mặt sau ngoài mắc cá ngoài và đi xuống dưới vào trong dưới lồi củ bờ ngoài xương gót.

Dây chằng mặt ngoài cổ chân

Hình 6.98 Dây chằng mặt ngoài khớp cổ chân B. Nhìn từ sau

 Các khớp gian khối xương cổ chân

Có rất nhiều khớp hoạt dịch giữa từng xương ở khối cổ chân chủ yếu làm động tác lật trong, lật ngoài, quay ngửa, quay sấp bàn chân.

  • Lật trong và lật ngoài là hướng cả lòng bàn chân theo thứ tự vào trong và ra ngoài;
  • Quay sấp là xoay phần trước bàn chân ra ngoài so với phần sau của bàn chân, và quay ngửa là động tác ngược lại

Quay sấp và quay ngửa cho phép bàn chân duy trì sự tiếp xúc bình thường với mặt đất khi đang ở các giai đoạn khác nhau của thì đứng hoặc đứng trên mặt gồ ghề.

Trên lâm sàng

Các vụ gãy cổ chân

Giá trị của giải phẫu là quan trọng để có thể hiểu được sự đa dạng của những vụ chấn thương xảy ra tại và quanh khớp cổ chân.

Khớp cổ chân và những cấu trúc có liên quan có thể xem như một vòng sợi – xương được định hướng trong mặt phẳng trán.

  • Phần trên của vòng này được cấu thành bởi một khớp giữa những  đầu xa của xương mác và xương chày và chính khớp cổ chân.
  • Các mặt của vòng này được cấu thành bởi các dây chằng nối mắc cá trong và mắc cá ngoài với các các xương khối cổ chân lân cận.
  • Đáy của vòng không phải là thành phần của khớp cổ chân, nhưng gồm khớp dưới sên và các dây chằng có liên quan.

Việc quan sát khớp cổ chân và những cấu trúc xung quanh như là một vòng sợi – xương cho phép bác sĩ dự đoán được kiểu tổn thương nào có thể là hậu quả của một chấn thương đặc thù nào. Ví dụ, một chấn thương lật trong có thể làm gãy mắc cá trong và rách dây chằng neo mắc cá ngoài vào khối xương cổ chân.

Vòng này có thể bị vỡ không chỉ vì tổn thương các xương (sinh ra gãy) mà còn vì tổn thương các dây chằng. Không như các vụ gãy xương, các tổn thương dây chằng không được nhận biết qua phim X quang. Khi có gãy xương được nhìn thấy trên phim, bác sĩ luôn phải nhận thức rằng cũng có đứt dây chằng nhiều.

Các khớp gian khối xương cổ chân chính mà ở đó các động tác xảy ra bao gồm khớp dưới sên, khớp sên-gót-ghe, và khớp gót-hộp. (Hình 6.99). Khớp sên-gót-ghe và khớp gót-hộp cùng nhau hình thành khớp thường được gọi là khớp ngang cổ chân.

Các khớp gian khối xương cổ chân giữa các xương chêm và giữa xương chêm với xương ghe chỉ cho phép cử động hạn chế.

Khớp giữa xương hộp và xương ghe thường là khớp sợi.

Khớp dưới sên

Khớp dưới sên là khớp giữa:

  • Diện sau rộng của xương gót với mặt dưới xương sên;
  • Diện tiếp xúc giữa mặt sau xương sên với mặt trên của xương gót.

Bao khớp được bọc bởi màng hoạt dịch, màng hoạt dịch được bao bọc bởi một màng sợi

Hình 6.99 Các khớp gian khối xương cổ chân

Khớp dưới sên cho phép trượt và xoay, khớp này dự phần vào động tác lật trong lật ngoài của bàn chân. Dây chằng ngoài, trong, sau và dây chằng gian cốt sên-gót làm vững cho khớp. Dây chằng gian cốt sên-gót nằm ở khoang khối xương cổ chân.

Khớp sên-gót-ghe

Khớp sên-gót-ghe là một khớp phức hợp trong đó đầu xương sên khớp với xương gót và dây chằng gót-ghe ở mặt lòng bàn chân và với xương ghe ở đằng trước.

Khớp sên-gót-ghe cho phép động tác trượt và xoay, hoạt động cùng nhau cho các động tác như ở khớp dưới sên, dự phần vào động tác lật trong và lật ngoài của bàn chân. Nó cũng tham dự vào động tác quay sấp và quay ngửa.

Các bộ phận của khớp sên-gót-ghe giữa xương sên và xương gót là:

  • Các diện khớp trước và giữa xương gót tiếp xúc với diện khớp bên dưới đầu xương sên;
  • Các diện tiếp xúc trước và giữa xương sên với (theo thứ tự) mặt trên và mỏm chân đế xương gót.
  • Khớp giữa xương ghe và xương sên là phần rộng nhất của khớp sên-gót-ghe và là đầu trước hình bầu dục của đầu xương sên với diện tiếp xúc lõm phía sau của xương ghe.

Hình 6.100

Hình 6.101A,C

H. 6.101- B. Nhìn từ bên trên, chân phải, đã bỏ đi xương sên

Các dây chằngBao khớp của khớp sên-gót-ghe, mà khớp là một khớp hoạt dịch, được củng cố bởi:

  • Phía sau được nối bởi dây chằng gian cốt sên-gót;
  • Phía trước được nối bởi dây chằng sên-ghe, đi ngang qua giữa cổ xương sên và vùng nối xương ghe;
  • Phía trong được nối bởi dây chằng gan chân gót-ghe (Hình 6.101C và 6.101D)

Mặt ngoài của khớp sên-gót-ghe được ổn định bởi phần dây chằng chẻ đôi phân đoạn gót-ghe, có hình chữ Y nằm ở trên khớp. Phần gốc của dây chằng chẻ đôi này đính với mặt trước diện trên của xương gót và hai nhánh của nó đính vào:

  • Diện trong phía mu chân của xương hộp (dây chằng gót-hộp);
  • Diện ngoài phía mu chân của xương ghe (dây chằng gót-ghe)

Dây chằng gót-ghe phía gan chân là một dây chằng to bản, dày bắc ngang khoảng trống giữa mỏm đế xương gót phía sau và xương ghe phía trước, kháng lại sự sụp vòm trong của bàn chân.

Khớp gót-hộp

Khớp gót-hộp là một khớp hoạt dịch giữa:

  • Diện khớp ở mặt trước xương gót
  • Diện tiếp xúc ở mặt sau xương hộp

Khớp gót-hộp cho phép cử động xoay và trượt, dự phần vào động tác lật trong và ngoài bàn chân, và góp phần vào việc quay sấp quay ngửa phần bàn chân trước (khi cố định) trên phần bàn chân sau.

Các dây chằng

Khớp gót-hộp được ổn định bằng dây chằng chẻ đôi (xem ở trên) và dây chằng gan chân dài cùng với dây chằng gót-hộp (dây chằng gan chân ngắn)

Dây chằng gót-hộp gan chân ngắn, rộng và rất chắc, tiếp xúc với lồi củ trước xương gót đến mặt dưới xương hộp (hình 6.102A). Nó không chỉ nâng đỡ khớp gót-hộp mà còn giúp dây chằng gan chân dài chống lại sự sụp vòm ngoài của bàn chân.

Dây chằng gan chân dài là dây chằng dài nhất ở lòng bàn chân nằm ở phía dưới dây chằng gót-hộp gan chân (Hình 6.102B):

  • ở phía sau, nó đính vào mặt dưới xương gót giữa mào và lồi củ xương gót;
  • ở phía trước, nó đính vào một gờ rộng và lồi củ mặt dưới xương hộp sau rãnh gân cơ mác dài.

Hầu hết các sợi ở mặt nông hơn của dây chằng gan chân dài trải vươn về nền các đốt bàn.

Dây chằng gan chân dài củng cố khớp gót hộp và là dây chằng mạnh nhất, chống lại sự sụp vòm ngoài của bàn chân.

Hình 6.102 Dây chằng gan chân A. Dây chằng gót-hộp phía gan chân B. Dây chằng gan chân dài. (1)Khớp gót hộp, (2) Ụ xương gót, (3) Dây chằng gan chân ngắn, (4) Dây chằng gan chân gót ghe (5) Dây chằng gan chân dài (6) Gân mác dài

Các khớp cổ bàn chân

Các khớp cổ bàn chân giữa xương bàn chân và các xương cổ chân kế cận là các khớp phẳng và cho phép các cử động trượt hạn chế (H. 6.103)

Tầm độ vận động của khớp cổ bàn giữa xương bàn ngón cái và xương chêm trong lớn hơn các khớp cổ bàn khác và cho phép gập, duỗi và xoay. Các khớp cổ bàn, cùng với khớp ngang cổ chân, dự phần vào việc quay sấp và ngửa của bàn chân.

Các khớp bàn đốt

Các khớp bàn đốt là khớp hoạt dịch bầu dục giữa đầu hình lồi cầu của các xương bàn và nền tương ứng của đầu gần các xương đốt ngón.

Các khớp bàn đốt cho phép cử động gập duỗi và dang áp xoay tròn và xoay vòng hạn chế.

Các bao khớp được củng cố bởi các dây chằng bên mặt trong và mặt ngoài và bởi dây chằng gan chân, vốn cố rãnh trên bề mặt gan chân của chúng để các gân dài của cơ các ngón bám vào (H. 6.103)

Hình 6.103

Dây chằng ngang lớp sâu xương bàn

Bốn dây chằng ngang sâu khớp cổ bàn nối đầu các xương bàn lại với nhau và tạo thuận cho các xương bàn hoạt động như một cấu trúc hợp nhất (H. 6.103). Các dây chằng này hòa nhập với dây chằng gan chân của các khớp bàn đốt lân cận.

Xương bàn của ngón một được định hướng trong cùng mặt phẳng như các xương bàn của các ngón khác và được nối với các xương bàn ngón hai bằng một dây chằng ngang lớp sâu. Thêm vào đó, khớp giữa xương bàn ngón một và mặt trong xương chêm có một tầm vận động hạn chế. Do đó ngón chân cái có một chức năng độc lập rất hạn chế – không giống như xương bàn ngón cái ở bàn tay có thể định hướng 90 độ so với xương bàn của các ngón khác, và khớp giữa xương bàn và xương cổ tay cho phép tầm độ vận động rộng rãi.

Trên lâm sàng

Các vết chai phồng

Một vết chai phồng xuất hiện ở bờ trong của khớp bàn đốt ngón một. Đây là vùng cực kỳ quan trọng của bàn chân vì là vùng giao nhau của các gân và dây chằng, là vùng chuyển đi và phân phối trọng lượng cơ thể trong suốt động tác. Người ta giả định rằng những lực đè ép lên vùng này của khớp có thể sinh ra biến dạng chai phồng hình củ hành.

Về mặt lâm sàng, một vết chai phồng hình củ hành là một cục u lớn của xương có thể gồm cả mô mềm quanh bờ trong của khớp bàn đốt ngón một. Khi nó tiến triển, ngón chân cái trông có vẻ di chuyển về phía các ngón nhỏ hơn,, tạo sự chen chúc nhau giữa các ngón.

Sự biến dạng này có khuynh hướng xảy ra giữa những người mang giày cao gót hoặc mang giày mũi nhọn, nhưng bị loãng xương và những người bẩm sinh dễ mắc là những yếu tố nguy cơ.

Thường thì bệnh nhân trình diện bị đau, sưng và viêm. Vết phồng củ hành có khuynh hướng to dần lên và có thể gây nhiều vấn đề khi chọn đúng giày để mang.

Việc điều trị ban đầu là chêm miếng đệm vào giày, thay đổi kiểu giày thường dùng, và uống thuốc chống viêm. Một số bệnh nhân có thể cần phẫu thuật để chỉnh đúng biến dạng và làm cho ngón chân thẳng trục.

Các khớp liên đốt

Các khớp liên đốt là khớp ròng rọc cho phép cử động chính là gập duỗi. Các khớp này được làm vững bằng các dây chằng bên trong và ngoài và bằng dây chằng mặt lòng (H.6.103)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Giải phẫu and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s