Bong gân cổ chân

(Bài dịch đang hoàn thiện)
Tác giả: Ken Stephenson, MD

Nội dung:

1.Giải phẫu có liên quan
2.Phân loại các bong gân dây chằng bên mặt ngoài
3.Chẩn đoán
4.Chấn thương khớp sợi (chày mác)
5.Ngăn ngừa bong gân cổ chân

Bong gân cổ chân chiếm khoảng 15% tổng số chấn thương ở vận động viên, với 23.000 ca chấn thương dây chằng cổ chân được báo cáo mỗi ngày ở Mỹ. Đặc biệt thường gặp ở môn bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, nhảy hiện đại và múa ba lê. Hầu hết bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, nhưng những triệu chứng mãn tính về đau và mất vững phát triển trong khoảng 20% đến 40% số bệnh nhân.
Giải phẫu có liên quan
Sự vững chắc của bất kỳ khớp nào cũng phụ thuộc vào sự khống chế cố hữu của hình thể xương và sự ràng buộc chủ động và thụ động của mô mềm. Khớp cổ chân khá vững ở vị thế trung gian vì mặt trước rộng hơn của xương sên khớp ngám khít vào mộng cổ chân (mộng chày- mác). Việc gập mặt lòng cổ chân lăn xoay phần sau hẹp hơn của xương sên vào mộng cổ chân khiến ngám ít khít hơn kèm theo khuynh hướng lật trong đặc thù. Sự ràng buộc chủ động của mô mềm tùy thuộc vào các đơn vị gân cơ có nâng đỡ và liên quan trong động tác của khớp. Tuy nhiên, xương sên không có các điểm gân bám tận và phải phụ thuộc gián tiếp vào hoạt động cơ bắp trên các xương lân cận khác ở cổ chân. Sự nâng đỡ thụ động của cổ chân được cung cấp bởi các dây chằng mặt trong, ngoài và sau và các khớp sợi chày mác. Phức hợp dây chằng mặt ngoài cổ chân là một cấu trúc thường bị ảnh hưởng nhất trong các vụ bong gân cổ chân.
Có ba thành tố trong phức hợp dây chằng mặt ngoài cổ chân là dây chằng sên mác trước (SMT), dây chằng gót mác (GM), và dây chằng sên mác sau (H. 5-1). Dc SMT chùng ở vị thế trung tính và căng ở vị thế gập mặt lòng. Đây là sự ràng buộc chủ yếu chống lại sự lật trong khi bàn chân gập mặt lòng. Dc GM cũng chùng ở vị thế trung tính, nhưng căng khi cổ chân gập mặt lưng.
Chấn thương cổ chân thường gặp nhất gồm một cú rách riêng dc SMT, theo sau đó là rách kết hợp dc SMT kèm dc GM. Cơ chế của chấn thương luôn luôn là lật trong khi gập mặt lòng bàn chân (H. 5.2)

Hình 5.1

Hình 5.1 A, Sự vững chắc của cổ chân được hỗ trợ bởi gân cơ mác dài và ngắn trên mặt sau ngoài và bởi cơ chày sau, cơ gập các ngón dài, và cơ gập ngón cái dài ở mặt trong. Khi bàn chân gập mặt lòng, dây chằng sên mác trước căng và có khả năng chấn thương hơn dây chằng gót mác và dây chằng sên mác sau. Đĩa sụn tăng trưởng ở trẻ em đặc biệt dễ tổn thương đối với gãy xương vì nó yếu hơn các dây chằng, xương và màng xương xung quanh. B, Các cấu trúc băng ngang mặt trong khớp cổ chân gồm phía trước là gân cơ chày trước và tĩnh mạch nổi dưới da và thần kinh. Phía sau mắc cá trong là những thành phần quan trọng của cơ chày sau, cơ gập các ngón dài, động và tĩnh mạch chày sau, thần kinh chày và phần nằm phía sau của cơ gập ngón cái dài. C, Nhìn từ mặt ngoài của cổ chân cho thấy những thành phần gân cơ và dây chằng chính cố định cổ chân. D, Nhìn mặt trước (hình bên trái) và sau (phải) của các dây chằng khớp sợi (giữa đầu xa xương chày và mác).

Dây chằng gian cốt nằm sâu trong mặt trước trong và mặt sau trong của các dây chằng chày mác. Bong (gân) các dây chằng khớp sợi thường do va chạm mạnh của một lực lật trong hoặc lật ngoài. Chấn thương dây chằng khớp sợi chày mác ở mức độ nhẹ có thể xảy ra riêng lẻ hoặc kết hợp với những chấn thương dây chằng khác của cổ chân và bàn chân. Bong (gân) các dây chằng khớp sợi mức độ nghiêm trọng có thể gây mất vững mộng chày mác và thường đi kèm với gãy xương.

Hình 5.2
Hình 5.2 Cơ chế chấn thương điển hình nhất ở một vụ bong gân là gập mặt lòng, lật trong và áp. Dây chằng sên mác trước thường bị rách nhất trong cơ chế gập mặt lòng – lật trong (Biên soạn từ Lane SE: Các vụ bong gân nghiêm trọng. Physician Sports Med 19[11]:43, 1990)

PHÂN LOẠI CÁC BONG (GÂN) DÂY CHẰNG BÊN MẶT NGOÀI

Một vụ bong gân độ 1, hay mức nhẹ, thì gân cổ chân là một sự dãn dây chằng mà không có rách lớn, hơi sưng hoặc hơi đau khi chạm vào, ít hoặc không có giảm chức năng, không mất vững khớp. Độ 2, hay mức vừa, bong gân cổ chân gồm rách một phần dây chằng kèm sưng và đau vừa khi chạm vào, mất một số chức năng khớp, và mất vững khớp nhẹ. Độ 3, hay mức nặng, bong gân gồm rách hoàn toàn các dây chằng (SMT và GM) kèm sưng nhiều, bầm máu và nhạy đau khi sờ vào, không thể chịu sức nặng trên chi đau, và khớp cơ học mất vững (H. 5-3).

Hình 5.3

Hình 5-3 Bong gân cổ chân độ 3. Chú ý bầm và sưng nghiêm trọng được liên tưởng đến chấn thương độ 3 (Trích từ Lane SE: Các vụ bong gân cổ chân nghiêm trọng. Physician Sports Med 18 [11]:43, 1990)

CHẨN ĐOÁN
Một chấn thương lật trong thường kèm với cảm giác đau xé hay kêu rắc ở bệnh nhân ở bờ ngoài cổ chân. Sưng có thể xuất hiện ngay ở độ bong gân 2 hay 3, và cơn đau điếng ban đầu có thể hạ xuống vài giờ sau đó, chỉ để rồi đau lại dữ dội hơn khi xuất huyết kéo dài 6 đến 12 giờ sau chấn thương.

Khám thực thể

Khám thực thể thấy sưng nhẹ ở bong gân độ 1 và sưng vừa đến sưng nhiều ở khoảng giữa các bệnh nhân bị bong gân độ 2 và độ 3. Luôn luôn bị đau khi sờ vào khi bị chạm ở gờ trước xương mác với những chấn thương dây chằng SMT và ở đầu mút xương mác với những chấn thương dây chằng GM. Vùng khớp sợi chày mác và nền xương bàn đốt ngón 5 nên được sờ để loại trừ những chấn thương ở những cấu trúc đó.

5-4A
Hình 5-4 A, test đối với sự mất vững dây chằng bằng test ngăn kéo trước. Nắm giữ gót bàn chân bệnh nhân và kéo về trước trong khi giữ mặt trước đầu xa xương chày ở vị trí cố định bằng tay kia. Sự xê dịch hơn 3mm hay có khác biệt khi xê dịch ra trước so với cổ chân bên lành gợi ý có rách dây chằng sên gót trước (SGT).

ATFL

H. 5-4 A, Sự xê dịch quá mức theo hướng trước sau của xương chày trên xương sên trong test ngăn kéo trước cho thấy bệnh nhân có một chấn thương dây chằng SGT.

B talar tilt test

H.5-4 B, test nghiêng xương sên (test ép lật trong) lượng giá sự toàn vẹn của dây chằng gót mác. Test này có lẽ được thực hiện bằng một giá đỡ hoặc bàn tay bằng chì có bán ngoài thị trường khi thực hiện chụp x quang. Lật trong bàn chân trong khi một tay cố định xương chày, tay kia giữ khớp dưới sên.

Normal AP

H. 5-4 C, góc trước sau cổ chân trước khi ép.

Picture1

H.5-4 C’ góc trước sau cổ chân khi ép lật trong cho thấy chấn thương dây chằng ngoài nghiêm trọng.

Test ngăn kéo trước và test nghiêng xương sên (talar tilt test) thường được dùng để xác định những dấu hiệu mất vững khớp (H. 5-4A và B). Test ngăn kéo trước dược thực hiện bằng cách cố định đầu xa của xương chày ở phía trước bằng một tay, và tay kia kéo nhẹ bàn chân đang được gập mặt lòng ra phía trước từ sau gót. Test dương tính với sự xê dịch ra trước hơn 5mm là dấu hiệu cho thấy có rách dây chằng SMT. Test nghiêng xương chày được thực hiện bằng cách cố định đầu xa của xương chày bằng một tay và tay kia lật trong xương gót và xương sên như một đơn vị. Test dương tính với sự xê dịch hơn 5mm cuối tầm mềm nhão là dấu hiệu cho thấy một chấn thương kết hợp dc SMT và dc GM (xem H.5-4C). Quan trọng là luôn so sánh chân bị đau với chân đối bên vì ở một số bệnh nhân bản chất là mềm dẻo (dây chằng lỏng lẻo toàn thân), có thể tạo một test dương tính giả.

Thăm khám cổ chân sau một chấn thương lật trong

Sờ các dây chằng bên mặt ngoài (SMT và GM)
Sờ dây chằng đen-ta mặt trong
Sờ đầu gần xương mác (gần gối) để loại trừ gãy kiểu Maisonneuve (rách màng gian cốt và lực di lệch ở đầu gần gây gãy đầu gần xương mác)
Test đè ép để loại trừ rách khớp sợi (chày mác) cổ chân hậu quả là mất vững mộng cổ chân (H. 5-5A)
Test lật ngoài (Cotton) (xem H. 5-5B và C) để khám chấn thương ở khớp sợi chày mác.
Sờ đầu gần (nền) đốt bàn ngón năm để loại trừ gãy xé (avulsion) từ sự co kéo của cơ mác ngắn
Test ngăn kéo trước và ép lật trong (nghiêng xương sên)
Khám vận động của cơ chày sau (lật trong) và các gân của cơ mác (lật ngoài) gồm test nhón gót trên một chân.

DSC04368

Hình 5-5 Test đè ép được dùng để lượng giá các dây chằng sợi chày mác ở khớp cổ chân. Test được thực hiện bằng cách nắm giữ mặt trước đầu gần cẳng chân và ép xương chày và xương mác vào nhau để nén dây chằng gian cốt. Nếu có tổn thương khớp sợi chày mác, thì đấu thủ sẽ than đau ở đầu xa chân tại khớp cổ chân. B, Test ép lật ngoài được thực hiện khi bàn chân bệnh nhân ở vị thế trung tính và gối gập 90 độ. Trong khi cố định xương chày và xương mác bằng một tay, tay kia bác sĩ lật ngoài cổ chân. Đau ở vùng khớp sợi (chày mác) là dấu chỉ cho thấy có chấn thương khớp sợi. C, Trong test bóc vỏ đậu chày sên (test Cotton), người khám một tay giữ đầu xa cẳng chân trong khi tay kia tác dụng một lực từ trong ra ngoài lên xương sên. Đau ở khớp sợi chày mác hoặc cảm thấy lỏng lẻo (so với chân bên lành có thể có ích) là dấu chỉ chấn thương dây chằng khớp sợi chày mác.

CHẤN THƯƠNG KHỚP SỢI CHÀY MÁC

Sự rách giập trong phức hợp dây chằng khớp sợi chày mác (các dây chằng chày mác và màng gian cốt) có lẽ xảy ra nhiều khoảng 10%  trong tất cả các chấn thương dây chằng cổ chân (H.5-6). Người khám phải luôn khám chấn thương này (xem test đè ép và test lật ngoài ở trên). Rách khớp sợi chày mác thường có liên quan đến rách dây chằng đen-ta (bờ trong), và gãy đồng thời xương mác là thường thấy (xem phần gãy cổ chân). Cơ chế có lẽ là sự quay sấp và lật ngoài kèm xoay trong xương chày trên bàn chân cố định, cơ chế như thế xảy ra ở những cầu thủ đá bóng bị một lực lật ngoài tác động lên bàn chân (bị dẫm đạp) khi nằm sấp trên sân.

Khớp sợi chày mác

Vùng đau và điển đau được định vị chủ yếu ở bờ trước của khớp sợi chày mác (chứ không ở các dây chằng bên ở bờ ngoài như ở bong gân cổ chân), và bệnh nhân luôn luôn không thể chịu sức lên chân đau. Những chấn thương này điển hình là nghiêm trọng hơn các vụ bong gân, đau và sưng nhiều hơn và khó chịu sức nặng. Chụp x quang với tư thế ép lật ngoài (ở cả khi gập mặt lưng và gập mặt lòng) thường cho thấy sự lỏng khớp (khe) giữa xương chày và mác. Chụp cắt lớp xương nếu nghi ngờ chẩn đoán nhưng có khó khăn khi khẳng định.

Rách một phần riêng khớp sợi chày mác thì thường được điều trị bảo tồn trong nẹp bất động trong 6 đến 8 tuần (chịu sức một phần bằng nạng). Đối với rách hoàn toàn khớp sợi chày mác, xương mác có thể bị ngắn và xoay ngoài. Điều trị rách hoàn toàn bằng nối dây chằng và cố định tạm thời xương chày và mác bằng đinh khớp sợi hoặc dùng ‘dây ràng’ (Arthrex, Naples, FL). Dây ràng dùng cố định kiểu EndoButton ở xương chày kèm với đường may cố định ở nút kim loại trên xương mác. Đinh khớp sợi chày mác phải được đưa vào khi cổ chân gập mặt lưng đến trung tính (phần rộng nhất của xương sên) để tránh hạn chế gập mặt lưng hậu phẫu. Dùng một đôi giày bốt để đi (chịu sức kiểu chạm chân) trong 6 đến 8 tuần sau phẫu thuật. Khuyến khích vận động chủ động và thụ động không mang giày từ ngày thứ 7, và cho phép chịu sức hoàn toàn vào tuần thứ 6. Thực hiện chương trình phục hồi chức năng tích cực với tập tầm độ vận động (ROM) cường độ cao, tập mạnh cơ và các bài tập cảm thụ bản thể (xem phác đồ phục hồi chức năng bong gân cổ chân, tr.557). Bệnh nhân phải được thông báo về chương trình hồi phục kéo dài hơn so với bong gân cổ chân và những tiềm năng đau cũng như những hệ quả sau đó ví dụ như sự cốt hóa lạc chỗ.

Những nhân tố quan trọng cho một kết quả tốt sau điều trị chấn thương khớp sợi chày mác là sự nhận ra được chấn thương đó, thực hiện được và duy trì sự chỉnh nắn theo giải phẫu mộng cổ chân và khớp sợi đầu xa chi dưới. Sự cố định khớp sợi chày mác luôn luôn được chỉ định để tránh những biến chứng tệ hại hơn của việc hở rộng hơn mộng chày mác và làm khớp không ngám khít (vd viêm xương khớp sau sang chấn)

Lượng giá phim X quang

Phim x quang được chụp để loại trừ những ổ gãy mắc cá ngoài và trong, xương sên và xương sên, và nền xương đốt bàn ngón năm. Phim x quang nên được chụp ở ba góc độ cổ chân trên một miếng cassette dài để chụp được toàn bộ chiều dài xương mác (góc trước sau, mặt ngoài và góc mộng chày mác [H.5-7A]) và ba góc độ bàn chân (trước sau, mặt ngoài và chéo) (xem H. 5-7B-D). Phim chụp x quang khi ép bàn chân có thể được dùng để định lượng sự mất vững trong khi bàn chân ở vị thế của test ngăn kéo trước và nghiêng xương sên. Bán trật xương sên trên 10mm hoặc sai khác 5mm so với chân đối bên là dấu hiệu test ngăn kéo trước dương tính. Xương sên nghiêng 15 độ hoặc sai khác 10 độ so với cổ chân đối bên lành là dấu hiệu test nghiêng xương sên dương tính.

Test ngăn kéo trước

Phương pháp điều trị cho các vụ bong dây chằng bên bờ ngoài

Y văn gần đây củng cố phương pháp phục hồi dựa trên chức năng như là phương pháp điều trị bong gân cổ chân được ưa chuộng thay cho phương pháp nẹp bất động vì nó cho phép sớm trở lại làm việc và hoạt động thể chất mà không kèm tỉ lệ cao các triệu chứng muộn (mất vững cổ chân, đau, đơ hay yếu cơ).

Ngay sau chấn thương là giai đoạn cấp, nguyên tắc PRICE (che chắn, nghỉ ngơi, chườm đá, băng ép và kê cao) được áp dụng (xem phác đồ phục hồi chức năng). Mục tiêu là để giảm xuất huyết, sưng, viêm và đau. Bắt đầu giai đoạn bất động tùy vào độ nghiêm trọng của chấn thương. Một số tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự bất động cổ chân ở vị thế trung tính hơn là ở vị thế gập mặt lòng vì dây chằng SMT bị kéo dãn ra khi gập mặt lòng. Đối với bong gân độ 1 và 2, dùng nẹp cổ chân để bất động. Đối với bong gân độ 3, một cái giày nẹp ống tạo cho nhiều độ vững và bảo vệ nhiều hơn và cho phép chịu sức sớm ít đau hơn. Tiếp tục bất động nhiều ngày ở bong gân vừa và đến 3 tuần đối với bong gân nặng độ 3. Khi độ 3 đỡ hơn, thì thay giày nẹp ống bằng nẹp cổ chân.

Nẹp độn hơi

giai đoạn bán cấp, mục tiêu bao gồm tiếp tục giảm sưng, viêm, đau và bắt đầu cử động, tập mạnh cơ và kiểm soát chịu sức thích hợp. Đây là giai đoạn collagen tăng sinh, và quá nhiều stress đặt lên dây chằng ở thời điểm này sẽ làm mô yếu hơn.

Giai đoạn phục hồi chức năng tập trung vào việc cải thiện sức mạnh, sức chịu đựng, thăng bằng và cảm thụ bản thể qua chịu sức. Trong suốt giai đoạn sưng để lành thương này của dây chằng, khoảng 3 tuần sau chấn thương, việc kéo dãn có kiểm soát các cơ bắp và động tác của khớp đẩy mạnh thêm khuynh hướng bình thường của các sợi collagen, song song với các đường đặt áp lực. Bài tập lặp lại trong suốt giai đoạn này đã cho thấy là có làm gia tăng sức mạnh cơ học và cấu trúc các dây chằng.

Phác đồ phục hồi chức năng sau bong gân cổ chân (dây chằng bên mặt ngoài)

Giai đoạn 1: Giai đoạn cấp

Thời gian

  • Bong gân độ 1: 1-3 ngày
  • Bong gân độ 1: 2-4 ngày
  • Bong gân độ 3: 3-7 ngày

Mục tiêu

  • Giảm sưng
  • Giảm đau
  • Bảo vệ khỏi tái chấn thương
  • Duy trì tình trạng chịu sức thích hợp

Các chọn lựa để bảo vệ

  • Băng
  • Nẹp chức năng
  • Giày nẹp ống tháo được (dùng ở một số bong gân độ 2 và hầu hết ở bong gân độ 3)
  • Nghỉ ngơi (dùng nạng để thúc đẩy việc đi lại mà không bị lệch dáng đi)

Chườm đá

  • Máy quấn đá cổ chân
  • Túi chườm đá
  • Chườm đá với các phương pháp khác (dòng giao thoa [H.5-9], kích thích điện cao tần galvanic, siêu âm)

kích thích điện

Băng ép nhẹ

  • Băng thun (Ace)
  • Ống TED (cho bệnh thuyên tắc tĩnh mạch)
  • Bơm hơi co mạch (vasopneumatic pump)

Nâng cao chân

  • Trên mức tim (kết hợp với mang nẹp hơi cổ chân)

Giai đoạn 2: Giai đoạn bán cấp

Thời gian

  • Bong gân độ 1: 2-4 ngày
  • Bong gân độ 2: 3-5 ngày
  • Bong gân độ 3: 4-8 ngày

Mục tiêu

  • Giảm sưng
  • Giảm đau
  • Gia tăng tầm độ khớp ở mức không đau
  • Bắt đầu tập mạnh cơ
  • Bắt đầu huấn luyện cảm thụ bản thể chịu sức ở mức không đau
  • Cung cấp dụng cụ bảo vệ hỗ trợ nếu cần

Các phương pháp giảm đau và sưng

  • Chườm đá hoặc tắm tương phản
  • Kích thích điện (cao tần galvanic hay giao thoa)
  • Siêu âm
  • Xoa bóp chéo (nhẹ nhàng)
  • Chỉnh cụ mềm với miếng chêm bờ ngoài 1/8 – 3/16 inch nếu cần

Chịu sức

  • Tăng tiến chịu sức đến mức cho phép của triệu chứng
  • Chịu sức một phần đến chịu sức toàn phần nếu không có xuất hiện dáng đi chống đau

Các bài tập trị liệu

Các bài tập ROM chủ động

  • Gập mặt lưng
  • Lật trong
  • Xoay tròn chân
  • Gập mặt lòng
  • Lật ngoài
  • Viết theo bảng chữ cái bằng ngón cái
  • Dùng đai cổ chân tập dưới nước (Aqua Ankle) lạnh để tập mạnh cơ và tập ROM
    Các bài tập mạnh cơ
  • Co cơ tĩnh ở tầm độ không đau
  • Tập gập duỗi ngón bằng khăn (đặt tạ vào khăn để gia tăng sức đề kháng)
  • Nhặt vật lên bằng các ngón (giấy, sỏi)
    Huấn luyện cảm thụ bản thể
  • Mâm ngồi sinh cơ học xoay cổ chân (BAPS)
  • Mâm bập bênh
  • Dĩa cổ chân
    Bài tập kéo dãn
  • Tập ROM thụ động – chỉ tập gập và duỗi ở tầm độ nếu không bị đau, không tập lật trong lật ngoài
  • Kéo dãn cơ Achille (nhẹ nhàng)
  • Di động khớp (độ 1-2 gập và duỗi)

Giai đoạn 3: Giai đoạn phục hồi chức năng

Thời gian

  • Bong gân độ 1: 1 tuần
  • Bong gân độ 2:2 tuần
  • Bong gân độ 3: 3 tuần

Các mục tiêu

  • Gia tăng ROM nếu không đau
  • Tăng tiến tập sức mạnh cơ
  • Tăng tiến tập cảm thụ bản thể
  • Gia tăng hoạt động sinh hoạt nếu không đau
  • Chịu sức hoàn toàn nếu không đau và không có dáng đi kiểu bù trừ

Các bài tập trị liệu

Kéo dãn

  • Cơ sinh đôi và dép với cường độ tăng lên
  • Di động khớp (độ 1,2 và 3 gập mặt lưng/lòng và lật ngoài; giữ lật trong)
    Tập mạnh cơ
    Các bài tập chịu sức
  • Nhón gót
  • Nhấc ngón
  • Bước lên bậc thang
  • Ngồi chồm (quarter squats)
  • Bài tập co cơ hướng tâm ly tâm và co cơ tĩnh (băng thera và tạ quấn)

Tập mạnh  cơ cổ chân với băng thera

  • Lật trong
  • Lật ngoài
  • Gập mặt lòng
  • Gập mặt lưng
  • Làm mạnh cơ mác
    Các bài tập đẳng động (isokinetics)
    Huấn luyện cảm thụ bản thể (tiến từ không chịu sức đến giai đoạn chịu sức có kiểm soát và chịu sức hoàn toàn)
  • Đứng trên mâm BAPS
  • Đứng trên mâm bập bênh
  • Tập trên máy tập thăng bằng chỉnh thế (Kinesthetic Ability Trainer – KAT)
  • Các hoạt động thăng bằng trên một chân (tập trụ vững trên mặt phẳng động, không bị mất tập trung
  • Tiếp tục các phương pháp nếu cần, đặc biệt là sau mỗi bài tập để ngăn ngừa tái phát đau và sưng
  • Quấn băng nâng đỡ, nẹp, chỉnh cụ dùng nếu cần. Thường thì chúng tôi nẹp suốt khi tập để cố gắng tránh tái chấn thương

Giai đoạn 4: Giai đoạn trở lại hoạt động hoặc chức năng

Thời gian

Bong gân độ 1: 1-2 tuần

Bong gân độ 2: 2-3 tuần

Bong gân độ 3: 3-6 tuần

Các mục tiêu

  • Lấy lại sức mạnh hoàn toàn
  • Sinh cơ học bình thường
  • Tham gia hoạt động trở lại
  • Bảo vệ và làm mạnh bất kỳ sự mất vững khớp nhẹ nào

Các bài tập trị liệu

  • Tiếp tục các bài tập tăng ROM và làm mạnh cơ
  • Bắt buộc tập sức mạnh và huấn luyện theo môn thể thao đặc thù
  • Chạy tăng tiến
  • Chạy nhẹ không chịu sức trên máy ZUNI
  • Chạy bộ không chịu sức trên máy ZUNI
    Chạy nhẹ với máy ZUNI
  • Chạy –đi bộ -chạy luân phiên trên mặt phẳng êm
  • Chạy nhanh-chạy nhẹ- chạy nhanh luân phiên trên mặt phẳng êm
  • Chạy hình số 8
  • Chạy zíc zắc

Huấn luyện sự linh hoạt (agility drills)

  • Đạp xe ngược
  • Bước ngang
  • Bước chéo chân
  • Bài tập sức mạnh tốc độ đặc thù theo từng môn thể thao
  • Tăng tiến các bài tập chịu sức thăng bằng theo nhiều hướng và các hoạt động vận động

Trở lại thi đấu

  • Khi các kỹ năng trên đã đạt được với đầy đủ tốc độ, VĐV có thể trở lại tập luyện
  • Khi đã thích nghi được với cường độ tập luyện hoàn toàn, có thể nghĩ đến việc thi đấu
  • Một số kiểu băng nâng đỡ cổ chân được khuyên dùng trong vài tháng đầu tiên. Chúng tôi thường dùng một cái nẹp đệm hơi thấp (low-profile aircast) hoặc nẹp cổ chân Bledsoe Ultimate

Giai đoạn 5: Giai đoạn phòng ngừa chấn thương

Mục tiêu

  • Ngăn ngừa chấn thương

Các bài tập trị liệu

  • Bài tập chức năng
  • Các hoạt động thăng bằng đa hướng trên mâm xoay
  • Các bài tập làm mạnh cơ để ngăn ngừa (nhấn mạnh vào cơ mác lật ngoài)
  • Các nâng đỡ để bảo vệ và ngăn ngừa chấn thương nếu cần

NGĂN NGỪA CÁC VỤ BONG GÂN CỔ CHÂN

Làm mạnh cơ và phục hồi chức năng thích đáng là thiết yếu để giúp ngăn ngừa các chấn thương do lật trong cổ chân; tuy nhiên, một số bệnh nhân cần thêm các hỗ trợ về sinh cơ học. Chúng tôi thường dùng nẹp cổ chân ở những VĐV có khuynh hướng bị chấn thương cổ chân ở các môn thể thao có nguy cơ cao như bóng rổ và bóng chuyền. Chúng tôi ưa dùng băng chân cột dây hình số 8 hoặc nẹp độn hơi chức năng đặt dưới gan chân của giày.

Nẹp cổ chân Ultra (Bregg, San Diego, CA) hạn chế hiệu quả chấn thương do lật trong nhưng vẫn cho phép cổ chân gập mặt lưng và mặt lòng. Tuy nhiên, một số VĐV, như vũ công ballet, có thể không thực hiện động tác được khi mang nẹp khiến tác dụng của nẹp bị hạn chế trong một số hoạt động nhất định. Những phương pháp hiệu quả khác ngăn ngừa chấn thương do lật trong là dùng một miếng lót mở ra ngoài ở đế giày chơi tennis hoặc một miếng chêm bờ ngoài vào đế trong giày. Việc này, một lần nữa, chỉ có hiệu quả trong một số môn thể thao nhất định như trong một chiếc giày tennis bị mòn.

Băng cổ chân có lẽ có ích, nhưng hầu hết sức mạnh của băng mất đi do băng dãn ra sau 10 phút đầu sử dụng. Chúng tôi dùng kỹ thuật đan rổ kín cổ chân.

Hình 5-16 Băng cổ chân cho bong gân (Courtesy of Mark Bohling AT-C)

  1. Đặt VĐV ngồi gập gối 90 độ
  2. Phun chất dính băng (vd Tuf-Skin, QDA) lên vùng sẽ băng
  3. Đặt miếng đệm có bôi chất trơn lên gót và chỗ buộc dây giày ở mặt sau và trước cổ chân (B)
  4. Băng lớp lót, bắt đầu ở giữa bàn chân băng lên cẳng chân, băng chồng lên nửa độ rộng miếng băng đến khoảng 5 đến 6 inch trên mắc cá trong ©
  5. Băng dải giữ ở đầu gần (#1) và đầu xa (#2) của lớp lót, nửa độ rộng phủ lên lớp lót, nửa còn lại phủ lên da (D)
  6. Bắt đầu băng ở phía sau trong ở băng giữ đầu gần

(còn tiếp)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Các test, Chấn thương chỉnh hình and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s