Các động tác, các vị thế và hoạt động (nhóm) cơ

Các động tác, vị thế và các hoạt động của cơ có tên gọi riêng và làm quen với những tên gọi đó là việc nên làm vì những nhà vật lý trị liệu và các nhà phẫu thuật dùng chúng trong bệnh viện.

Các động tác và các vị thế

Một cách tổng quát, gập có nghĩa là uốn cong lại và duỗi có nghĩa là làm thẳng ra. Uốn cong về phía trước chỗ thắt lưng là gập cột sống và đứng thẳng lên là duỗi. Uốn cột sống sang bên phải hoặc trái gọi là nghiêng bên.

Các từ khác nhau mô tả các động tác ở cổ chân và cổ tay: đứng nhón gót là duỗi nhưng thường được gọi là gập mặt lòng cổ chân và động tác ngược lại (khi chồm) là gập mặt lưng cổ chân. Nếu bàn chân bị cố định hoặc luôn được dùng trong tư thế nhón gót thì gọi là tật bàn chân rũ (equinus) và tư thế ngược lại được gọi là tật bàn chân cựa chim (calcaneus). Tật bàn chân rũ và bàn chân cựa chim có ngụ ý chỉ một biến dạng vị thế hoặc động tác. Ở cổ tay, hai động tác này được gọi là gập mặt lòng bàn taygập mặt lưng bàn tay và không có tên gọi cho bất kỳ biến dạng nào. Cổ tay cũng có một ít cử động sang bên: cử động về phía ngón út được gọi là nghiêng trụ và về phía ngón cái gọi là nghiêng quay (vì hai xương cẳng tay là xương quay và xương trụ)

Khớp hông và vai có thể di chuyển hầu như tất cả mọi hướng và động tác của một chân hay cánh tay ra xa cơ thể gọi là dang trong khi động tác mang phần chi thể đó về phía hoặc từ bên này sang bên kia cơ thể gọi là áp. Trong CP những thuật ngữ này thường được dùng nhất ở khớp hông, vì biến dạng khớp hông là khó khăn chủ yếu đối với nhiều trẻ bị CP. Một số khớp còn có thể xoắn vặn: động tác ở khớp hông có thể làm xoay đầu gối vào trong (vặn trong) hoặc ra ngoài (vặn ngoài) và cũng như thế đối với khớp vai. Các động tác tương tự ở cẳng tay đã được đặt các tên khác nhau: khi bạn giữ bàn tay để nhìn được vào lòng bàn tay thì cẳng tay lúc đó là quay ngửa và khi lật lòng bàn tay đi thì cẳng tay lúc đó quay sấp. Vặn mình để nhìn sang phải hoặc trái (gọi là xoay thân) thì gọi là xoay trái hoặc xoay phải.

Hai bàn chân có nhiều động tác hơn là chỉ dừng ở gập mặt lưng và gập mặt lòng cổ chân. Nó có thể lật trong (để hai lòng bàn chân đối diện nhau) hoặc lật ngoài. Khi vị thế của bàn chân không thể chỉnh sửa được, thì một bàn chân lật trong  được gọi là tật bàn chân vẹo trong (varus) và bàn chân lật ngoài gọi là tật bàn chân vẹo ngoài (valgus)

Hoạt động (nhóm) cơ

Là một nhóm cơ di chuyển phần chi thể theo hướng đã được đặt tên. Do đó, các cơ làm thẳng gối gọi là các cơ duỗi gối và các cơ làm đùi dang gọi là các cơ dang đùi.

Không cần phải biết các thuật ngữ đó, nhưng việc đi khám bệnh có thể dễ hiểu hơn và ít gây lo lắng hơn nếu quen với những thuật ngữ đó.

(Finnie’s handling the young child with Cerebral Palsy at home – tr.340)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Giải phẫu and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s