Liệt bán thân – Các loại nẹp trong liệt bán thân

(Bài đang hoàn thiện)

Trẻ bị liệt bán thân tay và chân một bên thân mình bị ảnh hưởng [A]. Chi trên bị nặng hơn chi dưới [B]. Gồng cứng một bên chiếm khoảng 20% ca bị bại não thể gồng cứng. Những trẻ này nhìn chung có rất ít bệnh đi kèm. Giao tiếp không khiếm khuyết. Có thể có động kinh, có vấn đề về học tập và hành vi. Tiên lượng chức năng tốt so với các thể loại khác vì một bên còn lại bình thường. Mọi trẻ liệt bán thân học đi khi được 3 tuổi. Trẻ dần độc lập trong sinh hoạt hàng ngày. Động kinh, chậm phát triển thần kinh tương đối, khó khăn trong học tập và rối loạn hành vi có thể làm phức tạp thêm sự chăm sóc và hòa nhập xã hội.

Những vấn đề cơ xương thường gặp

Vai áp và xoay trong, khuỷu gập và quay sấp, cổ tay và các ngón gập, ngón cái áp vào lòng bàn tay. Hông gập và xoay trong, gối gập hoặc duỗi, cổ chân gập mặt lòng. Bàn chân vẹo trong, mặc dù vậy biến dạng vẹo ngoài cũng có thể quan sát thấy. Bên bị liệt bán thân ngắn và teo cơ tùy vào độ nghiêm trọng của bệnh[C].

Việc điều trị bao gồm vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, nẹp, tiêm botulinum toxin và phẫu thuật chỉnh hình [D]. Một số trẻ có thể cần trị liệu âm ngữ và thuốc chống động kinh.

.

Những vấn đề cơ xương ở liệt bán thân
Chi trên Chi dưới
Vai Xoay trongKhép Hông GậpXoay trong
Khuỷu Quay sấpGập Gối GậpDuỗi
Cổ tay Gập Cổ chân Gập mặt lòng
Bàn tay GậpNgón cái gập vào lòng bàn tay Bàn chân Vẹo trong
Điều trị liệt bán thân
Vật lý trị liệu Ngừa co rútTập mạnh cơ yếuThiết lập một mẫu đi tốt hơn
Hoạt động trị liệu Sử dụng chức năng chi trênHoạt động sinh hoạt hàng ngày
Mang nẹp Chi dướiNẹp AFO cứng hoặc có khớp nối
Chi trênNẹp chức năng hoặc nẹp cố định
Botulinum toxin A Chi dướiCho cơ sinh đôi và cơ thẳng đùi bị gồng cứng
Chi trênCho cơ quay sấp và gập bị gồng
Phẫu thuật chỉnh hình Chỉnh đúngBàn chân rũ vẹo trongCứng gốiXương đùi nghiêng ra trước
Tiêm Botulinum toxin A ở bệnh liệt bán thân
Vị trí Vấn đề Đơn vị thuốc/kg cân nặng
Chi trên Khuỷu gậpCẳng tay quay sấpCổ tay gậpCác ngón gậpNgón cái trong lòng bàn tay Nhị đầuSấp trònGập cổ tay quayGập cổ tay trụGập các ngón nông

Gập các ngón sâu

Áp ngón cái

2122

2

2

0.5

Chi dưới Cơ thẳng đùiCơ sinh đôiCơ chày sau Cứng gốiBàn chân rũBàn chân vẹo trong 3-63-61-3

Vật lý và hoạt động trị liệu

 Những vấn đề về vận động ở trẻ liệt bán thân thường tương đối nhẹ. Vật lý trị liệu được thiết lập để tránh co rút cho bên ảnh hưởng, để làm mạnh cơ yếu, để tạo thuận cho việc sử dụng chức năng chi trên và để thiết lập một dáng đi tốt hơn.

Chương trình cơ bản cho chi dưới gồm hông, gối, bài tập tầm vận động khớp cổ chân; kéo dãn cơ thẳng đầu, cơ tam đầu đùi và sinh đôi và tập mạnh các cơ đối vận. Đừng bỏ qua cơ duỗi lưng và cơ ở đai chậu. Lên chương trình hoạt động trị liệu để đạt được chức năng bàn tay. Những hoạt động có dính líu đến cả hai bàn tay có thể cải thiện việc sử dụng bên tay liệt. Ức chế bên chi lành và bắt buộc bên liệt hoạt động là phương pháp mới được gọi là trị liệu ràng buộc. Nguyên tắc chính của trị liệu vận động ràng buộc là cầm giữ tay lành lại và tập luyện tích cực tay liệt trong một quãng thời gian đặc thù. Phương pháp này có những tác động có lợi nhưng có thể gây bực mình cho hầu hết trẻ con.

Trẻ bị liệt bán thân không cần vật lý trị liệu để tập di chuyển. Tiên lượng đi độc lập là rất tốt. Vật lý trị liệu có ích để ngăn ngừa co rút ở cổ chân. Ở hầu hết các trường hợp vật lý trị liệu và hoạt động trị liệu có thể được thiết lập để thực hiện cho bệnh nhân ngoại trú hoặc chương trình tại nhà.

Botulinum toxin A

Tiêm Botulinum toxin dùng cho chi trên và chi dưới bị gồng ở trẻ nhỏ [E]. Độc tố này giảm gồng ở cơ sinh đôi và cơ thẳng đùi của chi dưới. Trẻ dùng nẹp sẽ hiệu quả hơn và có thể phát triển được một dáng đi tốt hơn. Giải phóng sự gồng cứng trong giai đoạn sớm có thể ngăn ngừa sự co rút cơ sinh đôi và trì hoãn hoặc loại trừ nhu cầu can thiệp bằng phẫu thuật.

Ở chi trên, tiêm botulinum toxin để làm dãn cơ gập cổ tay, các ngón và ngón cái, để trẻ có thể quay ngửa cẳng tay được và ổn định cổ tay.

Thư giãn cơ bị gồng bằng tiêm botulinum toxin có thể giúp cho đội điều trị mường tượng trước trẻ sẽ hoạt động như thế nào khi những cơ gồng đã được phẫu thuật để kéo dài. Tuy nhiên, độc tố này không thể cho thấy tác dụng thực sự trên trẻ lớn hơn với cơ đã bị co ngắn.

Botulinum toxin có thể được kết hợp với phẫu thuật ở trẻ lớn. Tiêm botulinum toxin vào cơ bị gồng tương đối và không bị co ngắn; và phẫu thuật kéo dài những cơ bị gồng nhiều. Cách tiếp cận kết hợp này đã áp dụng trong những năm gần đây cho phép trở lại hoạt động sớm hơn, ít biến chứng hơn và ít yếu cơ hơn vì ít phải phẫu thuật chỉnh hình trên diện rộng.

Mang nẹp

Mang nẹp chi trên

Có hai chỉ định để mang nẹp bàn tay ở liệt bán thân. Một là để tránh biến dạng và một là để cải thiện chức năng. Nẹp ban đêm để tránh biến dạng và duy trì tầm vận động. Trương lực cơ luôn giảm vào ban đêm, do đó dùng nẹp cố định ban đêm để tránh biến dạng là có vấn đề. Trẻ ít chịu nẹp ban đêm. Dùng nẹp ban ngày để gia tăng chức năng bằng cách hoặc nâng đỡ cổ tay 10 độ duỗi, ngón cái ở vị thế đối hoặc cả hai. Hãy nhớ rằng nẹp ngày ngăn không cho tiếp nhận cảm giác ở tay vốn đã bị tổn thương.

Mang nẹp chân[A]

Nẹp AFO cố định cổ chân và bàn chân và để cổ chân gập mặt lòng khi chịu sức nặng [B]. Nẹp được làm 5 độ gập mặt lưng để tránh duỗi quá hoặc vị thế trung tính để tránh gập gối. Nếu bàn chân bị bất động thì trẻ phải duỗi gối. Hãy chỉnh đúng tất cả những co rút do bất động trước khi mang nẹp. Dùng nẹp có khớp cho bệnh nhân liệt một chi và bán thân đặc biệt khi bệnh nhân có thể gập chủ động mặt lưng bàn chân.

Phẫu thuật chỉnh hình

Chỉ định phẫu thuật thường là cho chân bị rũ, vẹo trong và gối cứng. Ngón cái gập vào lòng bàn tay và biến dạng gập cổ tay cũng đáp ứng tốt với phẫu thuật. Thực hiện tiến trình phẫu thuật ở mô mềm vào lứa tuổi từ 5-6. Chờ đến khi được ít nhất 8 tuổi để phẫu thuật có liên quan đến xương trừ phi biến dạng gây ra những vấn đề thuộc chức năng thì phẫu thuật sớm hơn.

Hoãn phẫu thuật chi trên nhằm mục đích chức năng (lứa 6 đến 12 tuổi) cho đến khi trẻ đủ trưởng thành để hợp tác với phục hồi chức năng hậu phẫu.

Bàn chân

Những vấn đề chính ở bàn chân bệnh liệt bán thân là bàn chân rũ và vẹo trong. Hai vấn đề này thường xuất hiện kết hợp với nhau và với những tật ở gối [C]. Hãy lượng giá hông, gối và bàn chân như một tổng thể khi kiểm tra chi dưới.

Bàn chân rũ thì gập mặt lòng trong suốt khi đi [D] điều này xảy ra vì cơ sinh đôi – dép bị gồng. Rũ bàn chân có thể động hoặc tĩnh. Rũ động xảy ra chỉ trong khi đi là gồng thứ phát cơ sinh đôi. Gập thụ động mặt lưng cổ chân không bị giới hạn. Khi cơ sinh đôi – dép bị ngắn, gập thụ động mặt lưng cổ chân bị giới hạn thì rũ bàn chân tĩnh xuất hiện [E].

Trẻ bị rũ bàn chân chịu sức nặng lên khớp bàn đốt. Những vết chai xuất hiện ở tuổi thiếu niên và người lớn. Độ dài bước chân ngắn, nhấc ngón chân trong thì đu không thích đáng và cổ chân không vững. Đôi khi sự lệch lạc do bàn chân rũ có thể dẫn đến lệch chậu (F].

Kéo dãn và đặt nẹp chỉnh đúng hàng loạt Điều trị cho trẻ dưới 5 tuổi bằng bài tập kéo dãn và nẹp hàng loạt chỉnh đúng. Áp dụng loạt nẹp chỉnh đúng trong hai đợt hoặc hơn liền nhau trong 3 tuần trong những co rút động và tương đối tĩnh. Cân nhắc tiêm botulinum toxin trước khi nẹp để cải thiện kết quả. Luôn đề ra bài tập kéo dãn và nẹp AFO nhựa sau khi nẹp hàng loạt.

Loại nẹp Chỉ định
AFO cứng Bàn chân rũ và rũ vẹo ngoài
AFO 5 độ gập mặt lưng Bàn chân rũ và gối duỗi quá
AFO có khớp Bàn chân rũ và rũ vẹo trong nếu trẻ:Có thể chịu được khớp nốiCó cái điều chỉnh vẹo ngoài vẹo trong

Có 5 độ gập mặt lưng thụ động

Chỉnh cụ trên mắt cá (SMO) Biến dạng tương đối vẹo ngoài-trong mà không bị rũ
Chân trong bệnh liệt bán thân
Bàn chân rũ, vẹo ngoài và thể phối hợp
Bị riêng hoặc kết hợp với những vấn đề ở hông và gối
Nhìn trẻ đi
Kiểm tra tầm độ cử động thụ động
Thử độ linh hoạt mềm dẻo
Kiểm tra tầm độ cử động chủ động
Phân tích dáng đi và cân chân đồ (pedobarography)
Nguyên nhân bàn chân rũ
Cơ sinh đôi gồng
Cơ dép gồng
Bàn chân rũ khiến
Không nhấc hết ngón chân lên trong thì đu
Không vững trong thì đứng
Độ dài bước chân ngắn
Các vết chai chân
Khó mang giày
Những chọn lựa cho bàn chân rũ
Silfverskiold test âm tính Kéo dài cơ sinh đôi
Silfverskiold test dương tính Kéo dài gân Achilles
Bàn chân rũ nặng Mổ bao khớp phía sau*
* Kết hợp với kéo dài gân Achilles
Chăm sóc hậu phẫu: phẫu thuật bàn chân rũ
Nẹp 3 tuần ở trẻ con6 tuần ở trẻ lớn
Cử động 2-3 ngày sau mổ
Chịu sức Toàn bộ
Nẹp Đến khi gập mặt lưng chủ động được
Biến chứng trong phẫu thuật bàn chân rũ
Tái phát
Kéo dài quá mức
Đau vì áp lực
Nguyên nhân tái phát sau phẫu thuật bàn chân rũ
Cơ chày trước yếu
Sự tăng trưởng của cơ xương khớp
Kéo dài không thích đáng
Không chịu mang nẹp
Phẫu thuật sớm quá (dưới 5 tuổi)
Kéo dài cơ kiểu chữ Z
Nguyên nhân bàn chân vẹo trong
Cơ chày sau bị co cứng Phần chân trước vẹo trong
Cơ chày trước bị co cứng Phần giữa bàn chân vẹo trong
Cơ tam đầu cẳng chân bị co cứng Cổ chân vẹo trong
Bàn chân vẹo trong khiến cho
Chân khó nhấc lên ở thì đu
Kém vững ở thì đứng
Khó mang giày
Có những vệt chai gây đau
Những vấn đề về thẩm mỹ

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não, Nẹp and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s