Tennis elbow

( bài dịch đang hoàn thiện)

(sửa lần 1: 1/1/2013)

Viêm mỏm lồi cầu ngoài (Tennis elbow)

Kiến thức cơ bản

DSC04379

Hình 2-24 A, Tấm gân cơ duỗi mặt ngoài. B, một bệnh nhân bị viêm lồi cầu ngoài (tennis elbow) bị đau và nhói khoanh vùng ngay trên điểm giữa lồi cầu ngoài khi cổ tay duỗi chống lại lực đề kháng.

Viêm mỏm lồi cầu ngoài (tennis elbow) được định nghĩa là một bệnh lý của cơ duỗi cổ tay ở nguyên ủy lồi cầu ngoài xương cánh tay. Nguyên ủy gân cơ duỗi cổ tay quay ngắn là vùng có nhiều thay đổi bện lý nhất. Những thay đổi này cũng được nhìn thấy ở cấu trúc gân cơ của các cơ duỗi cổ tay quay dài, duỗi cổ tay trụ và duỗi chung các ngón (H. 2- 24a). Chấn thương do dùng nhiều hoặc do lặp đi lặp lại ở vùng này gây xơ hóa và các vết rách li ti ở các mô có liên quan. Nirschl quy cho những vết rách li ti và sự mọc các mạch máu vào bên trong các mô có liên quan là angiofibroblastic hyperplasia (tăng sản u xơ mạch). Ông cũng đề xuất rằng tiến trình thoái hóa nên được gọi bằng thuật ngữ tendinosis (thoái hóa gân) chứ không là tendinitis (viêm gân)

Hầu hết các bệnh nhân bị viêm lồi cầu ngoài có độ tuổi trong khoảng từ 30 đến 55, và nhiều người trong số đó có hệ cơ kém. Chín mươi lăm phần trăm ca bị tennis elbow là ở những người không biết chơi tennis. Mười đến 50% những người thường chơi tennis đôi khi trải qua những triệu chứng của tennis elbow ở mức độ nặng nhẹ khác nhau trong toàn bộ quãng thời gian chơi tennis của họ. Nguyên nhân thường gặp nhất gây đau khuỷu tay tennis ở những người chơi tennis là do họ đánh cú đánh trái tay ‘trễ’, về cơ học mà nói đó là cú trái tay dở, khuỷu tay chưa duỗi hết. Những nhân tố góp phần khác là cỡ tay cầm vợt hay sức căng dây vợt không đúng, hoặc độ chùng vợt kém, và cơ bản là sức cơ bắp yếu ở vai, khuỷu và cánh tay. Cỡ tay cầm vợt quá nhỏ thường tăng triệu chứng hay gây ra hội chứng khuỷu tay tennis.

DSC04380

Hình 2-25 A, Một cú đánh trái tay ‘trễ’ hay đánh banh khi ‘khuỷu chưa duỗi hết’ sinh ra một lực quá mức lặp đi lặp lại dội lên tấm gân cơ duỗi khuỷu gây viêm lồi cầu ngoài (tennis elbow). B, Ở tư thế đúng, cánh tay đánh trúng banh duỗi sớm hơn, đưa ra phía trước, nâng lên cao và duỗi luôn theo đà sau khi đánh.

Hình 2-26 Test Mill

Đau ở lồi cầu ngoài khi cổ tay và các ngón hoàn toàn gập.

Thường gặp hơn là bệnh nhân trong quá khứ có những hoạt động gập-duỗi hoặc quay ngửa – sấp lặp đi lặp lại hoặc dùng nhiều sẽ mắc phải hội chứng này (thí dụ như vặn tuốc nơ vít, khiêng xách hành lý nặng trong khi bàn tay úp xuống). Nắm chặt và xách một cái va li nặng là nguyên nhân rất hay gặp. Quét lá, đánh bóng chày, đánh gôn, làm vườn và chơi bowling cũng có thể làm viêm lồi cầu ngoài.

Khám thực thể

* Điểm đau điển hình xuất hiện ở nguyên ủy cơ duỗi cổ tay quay ngắn tại lồi cầu ngoài (H. 2-24B).

*Điểm đau có thể đại thể hóa hơn ở bám tận tấm gân cơ duỗi chung tại lồi cầu ngoài (ngay đầu xa mặt trước lồi cầu ngoài)

*Điểm đau thường đau nhiều hơn khi duỗi kháng lại một lực đề kháng với cẳng tay quay sấp (bàn tay úp).

*Duỗi khuỷu có thể hơi bị giới hạn

*Test Mill có thể dương tính. Qua test này, thấy đau xuất hiện chỗ lồi cầu ngoài khi cổ tay và các ngón hoàn toàn gập (H. 2-26).

*Test Maudsley khiến bệnh nhân thấy khi duỗi ngón giữa có đề kháng thì đau tại khớp bàn đốt với khuỷu hoàn toàn duỗi. (H. 2-27)

*Việc lượng giá nên ghi lại những dị cảm nông có thể có ở khu vực phân bố thần kinh quay để loại trừ hội chứng đường hầm dây thần kinh quay. Hội chứng đường hầm dây thần kinh quay (H. 2-28) là nguyên nhân thường gặp nhất gây đau dai dẳng phía ngoài và cùng tồn tại với viêm lồi cầu ngoài ở 10% bệnh nhân.

Hình 2-28, hội chứng đường hầm thần kinh quay. Bốn yếu tố giải phẫu có tiềm năng bị chèn ép: (1) những dải sợi nằm trên đầu xương quay và bao khớp, (2) các sợi nguyên ủy của cơ duỗi cổ tay quay ngắn, (3) động mạch quay rẽ quạt (radial recurrent arterial fan?)và (4) vòm Frohse( http://en.wikipedia.org/wiki/Arcade_of_Frohse)

* Các rễ thần kinh đốt sống cổ nên được kiểm tra để loại trừ bệnh lý dây thần kinh quay thuộc cổ.

* Những bệnh khác nên được xem xét bao gồm viêm bao hoạt dịch dưới gân kết hợp, kích ứng mãn tính ở khớp cánh tay quay hoặc bao khớp, chứng nhuyễn sụn giữa lồi cầu xương cánh tay và xương quay hoặc bệnh viêm khớp, gãy cổ xương quay, bệnh Panner (http://en.wikipedia.org/wiki/Panner_disease), và bệnh osteochodritis dissecans ở khuỷu tay (hoại tử xương và sụn vùng khuỷu do thiểu năng tuần hoàn – http://en.wikipedia.org/wiki/Osteochondritis_dissecans)

Chẩn đoán phân biệt cho đau ngoài khuỷu tay

Kiểu đau, vị trí đau Test kích thích Những phát hiện về thần kinh
Viêm lồi cầu ngoài Điểm nhói đau được định vị dễ ngay trên lồi cầu ngoài, đau tăng khi hoạt động Duỗi cổ tay có đề kháng, cẳng tay quay sấp có đề kháng, test nâng ghế Không
Bệnh lý trong khớp Đau chung khớp khuỷu Test nén theo trục Không
Bệnh lý dây thần kinh quay ở cổ Đau rải rác vùng cánh tay ngoài, đau và/hoặc cứng cổ Giới hạn ROM cổ, test spurling dương tính Kiểm tra thấy phản xạ, cảm giác, vận động bất thường; EMG/NCS bất thường
Hội chứng đường hầm thần kinh quay Đau mơ hồ, rải rác cẳng tay; đau nhiều ở đầu xa hơn ở bệnh viêm lồi cầu ngoài; đau vẫn còn khi nghỉ Duỗi có lực đề kháng cho ngón tay giữa, cẳng tay quay ngửa có đề kháng, tiêm lidocain phân biệt dương tính Dị cảm ở da lưng bàn tay ngón 1 (5% -10%); EMG/NCS (10%)

Điều trị bảo tồn

Những hoạt động chuyển đổi

  • Ở những người không tham gia hoạt động thể thao thì việc từ bỏ những hoạt động gây đau là chìa khóa để cải thiện tình trạng (thí dụ việc mở nắp chai lặp đi lặp lại).
  • Việc điều trị bằng chườm đá và dùng thuốc kháng viêm không steroid có thể làm giảm viêm nhưng cứ tiếp tục các hoạt động lặp lại kích thích sẽ khiến quá trình hồi phục kéo dài.
  • Thường thì, cử động quay sấp-ngửa lặp đi lặp lại và nâng vật nặng khi làm việc có thể được thay thế hoặc loại bỏ. Sự thay thế hoạt động như tránh nâng vật khi tay quay sấp (H. 2-29) bằng việc nâng vật bằng cả hai tay quay ngửa có kiểm soát có thể làm giảm được triệu chứng (H 2-30)
  • Nâng vật nặng nên thực hiện khi lòng bàn tay hướng lên trên (quay ngửa) bất kỳ lúc nào có thể, và bằng cả hai tay để giảm lực lên khuỷu tay duỗi, quay ngửa và cổ tay duỗi.

Cơ chế chỉnh đúng

  • Nếu cú đánh trái tay trễ hoặc kém làm đau, thì cơ chế chỉnh đúng cú đánh là phải thực hiện.
  • Tránh chạm banh khi thiếu đổ trọng lượng cơ thể về trước, việc đó tạo ra căng thẳng lên khuỷu.
  • Nếu đánh máy mà cánh tay không được nâng đỡ khiến đau tăng, thì xếp khăn thành chồng để dưới khuỷu sẽ hữu ích.
  • Thuốc kháng viêm không steroids
  • Nếu không có chống chỉ định thì chúng tôi dùng cyclooxynenase-2 (COX-2) thuốc ức chế như celecoxib (Celebrex) thuốc bán không kê đơn như ibuprofen (Advil).

H. 2-29 Thay thế hoạt động bằng tránh cầm vật nặng khi tay quay sấp (sai)

H. 2-30 Cầm bằng hai tay quay ngửa. Đây là cách cầm đúng cho bệnh nhân bị viêm lồi cầu ngoài tấm gân cơ duỗi tránh đau.

Hình 2-31 Kéo dãn gân duỗi cổ tay dành cho bệnh viêm mỏm lồi cầu ngoài. Khuỷu duỗi, cổ tay gập hơi nghiêng trụ, bệnh nhân thực hiện năm đến sáu lần kéo dãn giữ 30 giây. Lặp lại bài tập hai đến ba lần mỗi ngày

Hình 2-32

Kéo dãn tấm gân cơ gập cho lồi cầu trong với khuỷu và cổ tay duỗi và hơi nghiêng quay, bệnh nhân thực hiện năm đến sáu lần kéo dãn giữ 30 giây.

Băng kháng lực (băng khuỷu tay tennis)

Băng này chỉ sử dụng trong khi chơi thật sự hoặc khi có những hoạt động kịch liệt.

Sức căng của băng được điều chỉnh thoải mái khi cơ được thư giãn để cho sự co cơ tối đa ở cơ duỗi các ngón và cổ tay được băng này ức chế (H. 2-33)

Băng được đặt xa nơi bị đau cách đầu xa lồi cầu ngoài bằng chiều rộng hai ngón tay.

H 2-33. Băng kháng lực bên ngoài cho khuỷu (lồi cầu ngoài). Đặt băng cách lồi cầu ngoài 2 ngón tay. Điều này khiến cho băng hấp thụ một ít lực hơn là để chỗ bám tận ở đầu gần nơi lồi cầu ngoài bị đau.

Một số tác giả đề xuất 6 đến 8 tuần đặt nẹp 45 độ cổ tay gập mặt lưng.

Người chơi tennis có thể giảm độ căng dây vợt, đổi tay nắm vợt (thường là đổi sang tay nắm lớn hơn) và đổi lấy độ chùng vợt nhiều hơn. Để đo tay nắm vợt Nirschl đề nghị đo chiều dài từ gờ gần của lòng bàn tay đến đầu ngón nhẫn bằng thước (H. 2-34). Nếu khoảng cách là 4 ½ inches thì tay nắm nên là 4 ½ inches.

H  2-34 Kỹ thuật Nirschl – đo tay cầm đúng là từ gờ gần lòng bàn tay đến đầu ngón nhẫn. Đặt thước đo giữa ngón nhẫn và ngón giữa để thước đặt đúng vào gờ gần lòng bàn tay. Số đo lấy được là cỡ tay cầm thích hợp- có nghĩa là, nếu khoảng cách là 4 ½ inches thì cỡ tay cầm thích hợp là 4 ½ inches.

Tiêm cortisone:

Chúng tôi có những kết quả tuyệt vời khi tiêm cortisone cho khuỷu tay tennis.

Chúng tôi đề xuất tiêm không quá mỗi 3 tháng và không hơn 3 mũi mỗi năm để tránh rách gân.

Kỹ thuật

Sử dụng 2ml lidocaine 25-gauge, kim 1 inch chích vào điểm đau nhất ở nguyên ủy cơ duỗi cổ tay quay ngắn, không tiêm vào gân.

Kim được để tại chỗ, sau đó ống tiêm được thay và tiêm vào 0,5 ml betamethasone (celestone). Đây là việc thay cho bôi da bằng cortisone để tránh cho da và mô mềm dưới da bị tác động bởi steroid.

Bài tập tầm vận động (xem H. 2-31 và 2-32)

Những bài tập chú trọng kéo dãn ở cuối tầm và thụ động (khuỷu duỗi hết, cổ tay gập hơi nghiêng trụ).

Di động mô mềm được thực hiện quanh vùng bị ảnh hưởng.

Điện trị liệu, điện di thuốc có thể hữu ích.

Bài tập làm mạnh cơ (giai đoạn cuối)

Một chương trình làm mạnh cơ nhẹ nhàng nên áp dụng làm mạnh nắm tay và cơ duỗi, gập cổ tay, cơ nhị và tam đầu và các cơ chỏm xoay.

Tuy nhiên giai đoạn viêm cấp tính phải được giải quyết trước, phải có 2 tuần sinh hoạt hàng ngày không bị đau trước khi khởi sự tập bài tập tăng dần sức mạnh.

Việc phát triển các triệu chứng (ví dụ đau) đi kèm với sự tiến triển của bài tập, thì giảm cường độ tập và chườm đá nếu có đau lại.

Chương trình tập bao gồm:

– Cử động chủ động và gồng cơ tĩnh dưới ngưỡng tối đa

– Bài tập tay đẳng trương ly tâm với tạ tăng dần sức nặng nhưng không quá 5 pound

– Cuộn cổ tay (xem hình 2-35)

DSC04377

Hình 2-35 Các cơ gập và duỗi cổ tay. Bệnh nhân cuộn một sợi dây có nối với tạ ở đầu dây. Tạ có thể tăng dần sức nặng. Các cơ gập làm việc khi lòng bàn tay hướng lên, các cơ duỗi làm việc khi lòng bàn tay hướng xuống.

Ngồi hai bàn tay đặt ngửa lòng bàn tay để trên gối (quay ngửa), gập cổ tay 10 lần trong bàn tay có cầm tạ nặng từ 1 đến 2 pound. Tăng lên 2 đợt, mỗi đợt 10 cái/ngày; sau đó tăng thêm 1 pound cho đến khi đạt 5 đến 6 pound. Lặp lại bài tập, lần này đặt lòng bàn tay úp (quay sấp) nhưng tạ chỉ tăng đến 4 pound.

– Làm mạnh các cơ cẳng tay.

Đưa cánh tay ra trước, lòng bàn tay úp. Nắm chặt các ngón, cổ tay vặn lên (duỗi), và giữ chặt như thế 10 giây. Sau đó dùng tay này đẩy bàn tay kia xuống. Giữ 10 giây, lặp lại như thế 5 lần; dần dần tăng lên 20 lần mỗi đợt, thực hiện hai đến 3 đợt mỗi ngày.

Treo tạ vào đầu dây (H. 2-35) có thể dùng làm bài tập mạnh các cơ gập và duỗi cổ tay. Cuộn sợi dây có treo tạ ở đầu dây. Trọng lượng tạ có thể tăng dần dần. Các cơ gập hoạt động khi để lòng bàn tay ngửa lên, cơ duỗi hoạt động khi lòng bàn tay úp xuống.

Bài tập gập và duỗi khuỷu (H. 2-36 và 2-37)

DSC04378

Hình 2-36 A Gập khuỷu – tập luyện đề kháng B, Duỗi khuỷu – tập luyện có đề kháng. C, Gập khuỷu- Tập với băng Thera. D, Duỗi khuỷu – tập với băng Thera.

Hình 2-37 Những bài tập mạnh cơ với băng Thera

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Chấn thương chỉnh hình and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s