Phụ lục 1: Các test phản xạ và những hoạt động tiền chức năng

(bài dịch đang hoàn thiện)

Tầm quan trọng của những hành vi vận động được mô tả dưới đây chưa được hiểu hết. Những khái niệm lí thuyết đề cập đến những phản xạ ở trẻ sơ sinh gần đây đã được đánh giá lại (xem chương 2 để biết sự thảo luận và tham khảo) Ngoại trừ những sách tham khảo có đề cập đến một tác giả đặc biệt, còn lại thì những sách tham khảo của những test sau đây là của Gesell và Amatruda (1947), Andre Thomas và cộng sự (1960), Peiper (1963) và Illingworth (1970). Phụ lục 2 minh họa những lúc mà phản xạ này có thể kích hoạt để trông thấy một cách điển hình trên trẻ bình thường.

Phản xạ của loài lưỡng cư (Amphibian reactions)

Test này được thực hiện khi trẻ nằm sấp. Người thực hiện nâng một bên chậu trẻ lên khỏi mặt bàn một chút. Chân cùng bên sẽ gập và dang tiếp theo sau. Phản xạ này có từ lúc mới sinh. Phản xạ có thể không thấy nếu trẻ bị tổn thương não. Cần phải thận trọng xem xét để không bị nhầm giữa cử động gập thụ động với phản ứng chủ động bình thường.

Đứng và bước của trẻ sơ sinh (neonatal standing and stepping)

Người thực hiện thử giữ cho bàn chân bé áp lên mặt bàn. Trẻ phản ứng bằng cách duỗi và đứng lên, mặc dù sự nâng đỡ vẫn cần vì sự thăng bằng chưa phát triển (xem h. 2.8). Nếu thân trẻ được nghiêng ra trước thì trẻ sẽ bước vài bước với hông và gối gập nhiều. Những động tác này được nhìn thấy ở trẻ mới sinh, và có thể kích thích ra, mặc dù phản ứng có thể giảm bớt ở một số trẻ. Gần đây người ta chỉ ra rằng việc đứng và bước đi đó duy trì được ở những trẻ được tập những hoạt động đó (Zelazo 1983). Khả năng chịu sức lên bàn chân và bước lúc mới sinh giờ được coi là hoạt động tiền chức năng. Những hoạt động này có thể vắng mặt ở những trẻ nhược trương và thiểu năng tâm thần nặng.

Phản xạ duỗi chéo (cross extensor response)

http://www.youtube.com/watch?v=iaXVUtS8Y4I

Thử test này khi trẻ nằm ngửa. Người thực hiện test giữ cho một chân duỗi và vuốt mạnh lên bàn chân trẻ từ gót cho đến các ngón chân. Trẻ phản ứng bằng cách gập chân đối bên thành dang, sau đó bằng cách khép và duỗi chân đó như thể để đẩy tay người kích thích ra. Phản ứng này xuất hiện từ lúc mới sinh đến khi trẻ được 4-6 tuần tuổi. Không xuất hiện hoặc tiếp tục tồn tại trước hoặc sau thời gian này là dấu chỉ tình trạng bệnh lý. Phản xạ này có thể không có hoặc có trễ ở trẻ bị những dấu hiệu thần kinh bất thường khác.

Phản xạ Galant (Galant reflex)

Trẻ được thử trong khi nằm sấp hoặc tư thế treo bụng (H. i.i). Người thực hiện thử nghiệm khều một ngón tay song song với cột sống từ xương sườn cuối đến mào chậu. Trẻ phản ứng bằng cách gập nghiêng người về phía kích thích. Phản xạ này có thể xuất hiện từ lúc mới sinh cho đến khi trẻ được 6-8 tuần tuổi. Phản xạ có thể không có ở những trẻ liệt mềm, và có thể tồn tại dai dẳng, hoặc hai bên hoặc một bên ở trẻ có những dấu hiệu thần kinh bất thường khác.

http://www.youtube.com/watch?v=-vBZesEaYYs

Phản xạ Moro (Moro reflex)

Người thực hiện thử nghiệm giữ đầu trẻ và nâng đỡ thân trẻ. Đột ngột bỏ nâng đỡ đầu để đầu rơi ra sau vào tay đã để sẵn. Việc đột ngột mất điểm tựa đầu làm trẻ giật mình và phản xạ bằng cách dang rộng cánh tay theo động tác ôm một vòng rộng, bàn tay mở và các ngón dang. Hai chân cũng có thể duỗi, mặc dầu vậy phản xạ này có thể biến đổi. Động tác này có thể làm trẻ khóc. Phản xạ này có mặt lúc mới sinh. Sau vài tuần đầu hai cánh tay duỗi và dang hẹp hơn, và phản xạ có thể không còn khơi gợi ra được nữa sau 2-3 tháng (Mitchell 1960). Phản xạ này có thể vắng mặt hoặc giảm bớt đi ở trẻ liệt mềm.

Nó có thể bất đối xứng ở trẻ bị liệt bán thân hoặc bị liệt tùng.

http://www.youtube.com/watch?v=pxvb097an3o

Phản xạ quay đầu tự vệ (Protective side-turning of the head)

Phản xạ này được thử khi trẻ nằm sấp. Người thực hiện để đầu trẻ nhẹ nhàng úp mặt xuống trên bàn, sau đó buông ra. Trẻ phản ứng bằng cách quay đầu sang một bên. Phản ứng này có mặt lúc sinh. Nó có thể vắng mặt ở trẻ có dấu hiệu bất thường về thần kinh.

Những phản xạ chỉnh thế (Righting reactions)

Những phản xạ này được coi là chịu trách nhiệm về khả năng duy trì đầu và thân trong không gian, và duy trì mối liên quan của từng bộ phận khác nhau trong cơ thể với nhau (Bobath và Bobath 1955). Trẻ phản ứng với những thay đổi do bên ngoài tác động đến vị thế của một phân đoạn cơ thể (thí dụ như đầu) bằng cách dịch chuyển những phần cơ thể khác vào hàng (Milani – Comaretti và Gidoni 1967). Thị giác có thể đóng một vai trò quan trọng trong phản xạ này.

1.Phản xạ chỉnh thế cổ (Neck – righting reflex)

Test này được thử khi trẻ nằm ngửa. Nó thực ra là một phản xạ cảm thụ bản thể được khơi gợi ra bằng cách duỗi các cơ cổ. Người thực hiện giữ đầu trẻ và xoay về một bên. Thân sẽ theo đầu và trẻ lăn qua một bên. Phản ứng này có mặt lúc mới sinh và rõ nhất lúc trẻ được 3 tháng tuổi, sau đó thì nó trở nên ít tin cậy hơn, cho đến khi nó không thể tạo ra được lúc trẻ 5 tháng tuổi. Phản xạ có thể vắng mặt ở trẻ bị liệt mềm. Ở trẻ bị bại não phản xạ này có thể là bất thường. Ở trường hợp đó, đai vai của trẻ vẫn giữ rụt vào và trẻ không đưa cánh tay ra trước.

2.Phản xạ chỉnh thế mê đạo (Labyrinthine -righting reaction)

Phản xạ này được thử bằng cách quan sát vị trí đầu của trẻ trong mối liên quan với cơ thể khi được nằm ngửa và sấp và khi được nghiêng sang bên từ vị thế thẳng đứng. Một trẻ bình thường mới sinh thể hiện đầu nâng chậm hơn thân khi được kéo ngồi dậy, mặc dù có cố gắng nâng đầu lên. Một trẻ bị rối loạn chức năng não có thể có thể hiện đầu nâng chậm hơn thân rất rõ nét (xem Hình 5.1) Lúc 4 tháng tuổi, trẻ nâng đầu lên thẳng hàng với thân khi được kéo ngồi dậy (H. 2.6). Lúc 5-6 tháng đầu nhấc lên khi trẻ đoán là sẽ được kéo ngồi dậy (H. 2.7). Trẻ mới sinh được giữ ở thế treo bụng sẽ để đầu trĩu gập xuống một chút (H. i.ii), nhưng không trĩu xuống đến độ gập hoàn toàn như ở trẻ có rối loạn chức năng ở não  (H. ii.iv). Vào tám tuần tuổi đầu sẽ nâng lên cùng hàng thẳng với thân. Vào 4 tháng tuổi đầu sẽ nâng thẳng khi trẻ nằm sấp (H. 2.1)

Placing reactions

Người thực hiện giữ lưng bàn chân trẻ hoặc mặt trước của chân chạm gờ bàn. Trẻ phản ứng bằng cách gập chân và đặt bàn chân lên bàn. Phản ứng giống thế có thể tìm thấy ở hai bàn tay, bàn tay được đặt lên bàn để phản ứng với cú chạm ở lưng bàn tay. Những phản ứng này có thể khơi gợi được lúc mới sinh (Zapella 1963). Tuy nhiên, những phản ứng này có thể vắng mặt ở trẻ liệt mềm, và ở trẻ bại não. Những phản ứng này có thể bất đối xứng ở trẻ bị liệt bán thân hoặc liệt tùng. Test này hữu ích khi cần xác định rối loạn chức năng chi dưới ở trẻ thể hiện ít dấu hiệu bất thường khác.

Phản ứng Landau (Landau reaction)

Đây là test thực hiện với trẻ ở tư thế treo bụng. Trẻ bình thường 4, 5 tháng tuổi phản ứng với tư thế treo bụng (ventral suspension) bằng cách duỗi đầu, thân và lúc 6 hoặc 8 tháng thì duỗi chân. Người thực hiện test gập đầu trẻ thì thân và chân trẻ gập theo. Khi đầu được buông ra, chân và đầu và thân luôn trở lại vị thế duỗi. Phản ứng này có thể vắng mặt ở trẻ bị bại não hoặc thiểu năng tâm thần nặng, lúc đó trẻ vẫn gập khi ở tư thế treo bụng. Ở trẻ bị bại não, có thể không có sự thay đổi vị thế khi đầu được gập xuống, đầu, thân, và chi dưới vẫn duỗi.

http://www.youtube.com/watch?v=XSS0GibDyBk

Phản xạ nhảy dù (Parachute reaction)

Trẻ được giữ ở thân mình và đầu được đưa hướng về mặt đất. Để phản ứng lại, hai cánh tay trẻ duỗi và với bàn tay ra về phía sàn nhà. Phản xạ này có thể khơi gợi ra lúc 6 tháng tuổi, nhưng rõ hơn lúc 9 tháng tuổi, và tiếp tục tồn tại như một cơ chế tự vệ. Phản ứng này có thể vắng mặt ở trẻ chậm phát triển.

Phản ứng này cũng có thể được thử ở vị thế ngồi, khi trẻ được đẩy nhẹ nhàng tới phía trước, sang bên và ra sau. Để phản ứng lại, trẻ đưa một hay cả hai bàn tay ra để chống. Trẻ bình thường biểu hiện phản xạ ra trước lúc 6 tháng, sang bên lúc 8 tháng và ra sau lúc 12 tháng.

Phản xạ nhảy dù được cho là phụ thuộc vào sự kiểm soát tiền đình (Paine và Oppe 1966). Tuy nhiên, một phân tích phản xạ đề xuất thay vào đó là bị thị giác chi phối (Peters và Walk 1974).

Các phản ứng thăng bằng (Equilibrium reactions)

Trên lâm sàng, thường thì các phản ứng được gọi là phản ứng thăng bằng thì coi như ‘những phản xạ tư thế’, có nghĩa là, những phản xạ tự động (không ý thức) đối với sự mất thăng bằng. Những phản ứng này có thể được hiểu rõ hơn khi phản ứng với ngoại lực tác động lên cơ thể. Không giống như sự điều chỉnh tư thế trước một cử động tự phát, sự điều chỉnh tư thế do những ngoại lực tác động xảy ra sau sự xáo động của khối cơ thể được người nhà trị liệu tạo ra trực tiếp (bằng tiếp xúc bằng tay)hoặc gián tiếp (bằng chuyển động của mặt phẳng nâng đỡ).

Trong khi ngồi và đứng, trẻ được nghiêng chầm chậm qua một bên, sau đó ra trước và ra sau, và, khi khối cơ thể được di chuyển quá giới hạn vững chắc, thì trẻ sẽ cử động thân mình và các chi theo hướng đối diện để giữ trọng tâm của khối cơ thể thăng bằng (H. i.iii và i.iv). Những phản ứng này xuất hiện đầu tiên trong tư thế nằm sấp, sau đó là nằm ngửa lúc 6 tháng tuổi, trong khi ngồi lúc 9 tháng và khi đứng khoảng 14 tháng. Mọi sự điều chỉnh tư thế là đặc thù theo nhiệm vụ và hoàn cảnh mà nó xảy ra. Sự chỉnh thế với ngoại lực đã được khảo sát khá kỹ lưỡng (xem chương 2). Trong thời thơ ấu, những phản ứng phản ánh không chỉ sự trưởng thành của cơ thể mà còn phản ánh kinh nghiệm của trẻ. Mặc dù trên lâm sàng mà nói, người ta coi một phản ứng là ‘bình thường’ đối với sự xáo động do ngoại lực tác động nếu phản ứng đó phản ánh một cơ chế phản xạ tư thế ‘bình thường’ và do đó mà việc đạt được động tác ‘bình thường’ là quan trọng, điều này không hẳn là phải cho biết trước các động tác điều chỉnh tư thế đặc thù.

Hình i.iii Phản ứng với sự xáo động do ngoại lực tác động vào khối cơ thể khi đang ngồi. Để ý thấy rằng cử động sang bên của đầu và thân khi khối cơ thể bị đẩy từ một chân đế này (hai đùi) sang một chân đế khác (đùi phải). Phản ứng này đảm bảo cho trọng tâm của khối cơ thể không dịch chuyển đến mức mất thăng bằng.

Những phản xạ chỉnh thế cổ

1.Phản xạ trương lực cổ bất đối xứng

Thực hiện test này khi nằm ngửa. Đây là một phản ứng rõ ràng là được khơi gợi ra bằng cách đặt một lực kéo dãn lên cơ cổ. Đầu của trẻ được quay qua một bên. Người thực hiện test vừa nhìn vừa cảm nhận phản ứng ở các chi. Cánh tay và chân bên quay mặt qua duỗi, còn cánh tay và chân bên kia thì gập (H. i.v). Có thể không có cử động thực sự, mà chỉ có sự gia tăng đề kháng với cử động gập chi ở bên mặt quay qua và kháng cử động duỗi ở đối bên. Trẻ sơ sinh bình thường 2-3 tháng đầu thường được quan sát thấy nằm trong vị thế ‘bắn cung’ này trong một quãng thời gian ngắn, nhưng đó chỉ là điều thoáng qua, không phải là phản ứng lâu dài, và không thể coi điều đó có tính phản xạ. Nếu tư thế trở nên kéo dài (sau 5 tháng tuổi; Bax 1987) hay nếu nó trở thành phản xạ rập khuôn khi xoay đầu, thì nó được coi là bất thường. Nó có thể lấn át chức năng vận động của trẻ đến một mức độ mà tay trẻ không thể cho vào miệng được.

2.Phản xạ trương lực cổ đối xứng.

Phản xạ này có thể thử khi quỳ 4 điểm. Có thể khơi gợi ra biểu kiến bằng cách đặt một lực kéo dãn lên cơ cổ. Khi người thực hiện test duỗi đầu trẻ, cánh tay sẽ duỗi, còn chân thì gập. Khi gập đầu trẻ, thì cánh tay sụm xuống thành gập và chân duỗi. Người ta nghi ngờ là liệu phản xạ này được nhìn thấy ở trẻ bình thường như thế nào khác ngoại trừ phản ánh một sự thay đổi cơ chế trong sự chỉnh thẳng các phân đoạn cơ thể. Nếu nó xảy ra theo cách rập khuôn như được mô tả ở trên thì nó được coi là bất thường. Phản ứng này được quan sát thấy ở trẻ bại não (Bobath và Bobath 1955).

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não, Các test and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s