Phần II Chương 5 Bại não

(bài đang hoàn thiện)

Chương 5 Bại não

Giới thiệu

Bại não (CP) là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm rối loạn não không tiến triển gây ra do một tổn thương hoặc phát triển tâm thần bất thường ở thời kỳ thai nhi hoặc thơ ấu. Những rối loạn này có đặc điểm là kém kiểm soát vận động, thay đổi thích nghi chiều dài cơ và, ở vài trường hợp là biến dạng xương. Những rối loạn vận động là phân biệt điển hình và được phân loại trên lâm sàng theo thuật ngữ tùy theo phần cơ thể bị ảnh hưởng (ví dụ liệt bán thân, hạ chi, tứ chi) và theo quan sát lâm sàng về trương lực cơ và cử động không chủ ý (ví dụ gồng cứng, thất điều, múa vờn). Ở vài trường hợp những nhân tố gây bệnh đã được biết nhưng ở những trường hợp khác thì chưa. Những bất thường về thần kinh sinh lý nằm dưới rất nhiều dạng rối loạn vận động vẫn còn chưa được hiểu hết (Brouwer và Ashby 1991).

Tuy nhiên nếu những nguyên nhân bệnh sinh có thể thay đổi thì bệnh lý hệ thần kinh trung ương lẽ ra không tiến triển. Mặc dù vậy, những đặc tính lâm sàng là có thay đổi khi trẻ lớn lên. Những thay đổi này có thể là kết quả của tiến trình thuần thục và thích nghi và có thể dự đoán được, do đó, bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm của trẻ. Sau khi sinh, cấu trúc cơ thể và hệ thần kinh kiểm soát sự thích nghi của cơ thể thích nghi theo tổn thương não, nhưng cũng theo số lượng và độ đa dạng của động tác mà trẻ thực hiện. Những động tác này xuất hiện ở tần xuất lớn tùy theo khiếm khuyết sự kiểm soát vận động, theo khả năng nhận thức của trẻ và môi trường mà động tác đó xảy ra. Có nghĩa là, trẻ bị giảm chức năng hệ thần kinh trong nỗ lực di chuyển, thì những động tác di chuyển đó phản ánh không chỉ sự kiểm soát vận động và khiếm khuyết nhận thức mà còn thể hiện bản chất của mối tương quan động trong các phân đoạn cơ xương và đòi hỏi của môi trường xung quanh. Ví dụ, trẻ cố gắng với tay ra lấy một vật mong muốn theo cách hiệu quả nhất có thể có ở một tình trạng hệ thần kinh được biết trước và những thích nghi bất kỳ của mô mềm. Mẫu vận động xuất hiện và được củng cố qua tập luyện phản ánh những chọn lựa sinh cơ học có thể có để chuyển bàn tay đến vật, nơi vật đang hiện diện, đặc điểm của vật (hình dạng, kiểu cầm tay), và những gì có thể thao tác được với vật.

Bình thường thì, sự phát triển ở trẻ sơ sinh có đặc điểm là học cách sử dụng những đặc thù động học của những phân đoạn nối kết cơ thể để đạt được một ý định cụ thể hoặc mục tiêu. Rất có thể là những kinh nghiệm trực tiếp này ở mức độ nào đó khiến có những thay đổi về sự thuần thục xảy ra trong hệ thần kinh. Bởi vì trẻ sơ sinh bị khiếm khuyết kiểm soát vận động thì di chuyển chỉ theo cách có thể có tùy theo khiếm khuyết thần kinh đó và môi trường trẻ được ở trong đó, tùy vị thế và động tác gì trẻ được tập vốn là những nhân tố quan trọng. Kết quả là, trẻ sơ sinh bị bại não, khi được đặt nằm ngửa, có thể thể hiện nhiều hoạt động hơn ở cơ phía sau thân mình và cơ sau chi hơn là ở các cơ gập. Hoạt động này của chi có thể là kết quả của những cơn co rút loạn trương lực cơ có liên quan đến tổn thương não. Tuy nhiên, cũng có thể có những nguyên nhân thuộc cơ học và thuộc chức năng. Những cơ này có thể là những cơ dễ co nhất trong vị thế này, với những đòi hỏi của trọng lực đặt lên nó và độ dài cơ bị thu ngắn trong lúc nghỉ đã biết. Những mẫu kích hoạt cơ theo thói quen, thông qua sự lặp lại trở thành được củng cố hoặc coi như học được. Về một khía cạnh nào đó, vì thế mà khiếm khuyết vận động là tiến triển theo cách mà trẻ tập luyện và trải nghiệm phải tác động trở lại sự phát triển của hệ thần kinh và hệ cơ xương. Bản chất tiến triển biểu kiến của khiếm khuyết vận động là đặc biệt rõ ràng vào hai năm đầu đời, và đặc biệt thiếu sự can thiệp để kích thích những hành vi vận động linh hoạt hơn và phòng ngừa những thay đổi trong độ dài cơ.

Vì khiếm khuyết thần kinh trong bại não ảnh hưởng đến nhiều hệ thống chức năng, những trẻ bị như thế có thể trải qua nhiều vấn đề cần có sự giúp đỡ và hướng dẫn ở những lĩnh vực có liên quan đến y tế và giáo dục: thần kinh, tâm lý, công tác xã hội, vật lý trị liệu, âm ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu, giáo dục thể chất, chỉnh hình, chỉnh cụ và mắt. Điều nên làm cho những người ở cả lĩnh vực y tế và giáo dục là có một cái nhìn tổng thể về những vấn đề chức năng mà trẻ bị khiếm khuyết hệ thần kinh trung ương phải đối mặt, cũng như những thuộc tính tích cực của trẻ và gia đình, mặc dù lúc đầu những thuộc tính này có vẻ như có hoặc không có liên quan đến lãnh vực đặc biệt mà họ đang hoạt động. Mỗi một khiếm khuyết, dù cho đó là âm ngữ, thao tác tay, nghe hay thăng bằng, là kết quả của tổn thương hoặc khiếm khuyết trong phát triển ở não trẻ cũng như những nhân tố khác có liên quan đến môi trường và kinh nghiệm của trẻ, và do đó có liên hệ mật thiết đến những nhân tố khác. Để cố gắng hiểu một loạt những vấn đề mà trẻ phải đối mặt là một nhiệm vụ khó khăn, đặc biệt dưới góc độ có quá ít nghiên cứu về những cơ chế nằm dưới sự mất kiểm soát.

Một sự mô tả chi tiết về những vấn đề của trẻ bại não và việc xử lý những vấn đề đó nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này, và tác giả, trong chương này và chương 3 và 4 tập trung vào việc minh họa cách người kỹ thuật viên vật lý trị liệu có thể áp dụng những phát hiện khoa học có liên quan đến động tác của con người, sự phát triển và mất kiểm soát của chúng, vào việc phát triển những chiến lược huấn luyện vận động.

Lược sử

Đã có nhiều hệ thống điều trị phát triển trong nhiều năm, do Collis, Phelps, Temple Fay, Bobath (gọi là liệu pháp phát triển thần kinh tâm thần hay NDT), Kabat, Knott và Voss (kỹ thuật tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ PNF), Rood, Peto và Vojta, một số người làm việc đặc biệt trong lĩnh vực bại não, số khác làm việc với bệnh nhân bị những bất thường thần kinh khác. Những cá nhân này đều đã có những góp phần vào sự hiểu biết của chúng tôi về bại não. Tuy nhiên, như Scutton và Gilbertson chỉ ra vào năm 1975, ‘một sự tiếp cận để điều trị những rối loạn này là được phân loại riêng ra và không biệt lập cách tiếp cận đó sẽ khiến cái nhìn tổng quát bị méo mó. Công trình của tiến sĩ và bà Bobath đã đặt ra thách thức cho những phương pháp điều trị đã được thiết lập và đã gây ảnh hưởng đến vật lý trị liệu nhiều hơn mức người ta tri ân phương pháp đó’.

Hầu hết những cách tiếp cận trên được phát triển nằm ngoài những kiến thức của bác sĩ về lý thuyết bệnh học thần kinh trong nửa thế kỷ đầu. Những kỹ thuật được phát triển chủ yếu theo cách qui nạp từ những thử và sai trên lâm sàng, và những giải thích lý thuyết được tìm kiếm, chủ yếu trên y văn về bệnh học thần kinh. Giáo dục đặc biệt, do Peto phát triển, là một ngoại lệ, đã phát triển thành phương pháp của việc giáo dục cho trẻ khiếm khuyết vận động trên mọi lĩnh vực của hoạt động chức năng hàng ngày.

Mặc dù các bác sĩ đã gặp những khó khăn khi chứng tỏ là sự thực hiện động tác chức năng được cải thiện là kết quả của một phương pháp điều trị bất kỳ, nhưng dường như ít có nghi ngờ mối liên quan của sự can thiệp chủ động với cường độ cao có tác dụng ở nhiều trẻ bại não tham gia chủ động vào môi trường, và tác dụng ít đối với trẻ ở suốt trên giường trong lớp học. Tuy nhiên, câu hỏi then chốt được đặt ra là,  liệu sự can thiệp dựa vào những phát hiện gần đây trong những ngành khoa học có liên quan đến động tác con người sẽ hiệu quả hơn những cách tiếp cận thông thường ngày nay hay không. Những cách tiếp cận trị liệu đang chiếm ưu thế không được xây dựng trên nền tảng của những lý thuyết sẵn có. Thêm vào đó, nhiều kỹ thuật viên dùng một thứ cốc tai tạp nham những kỹ thuật mà không đo lường một cách hệ thống những kết quả có được như một cách xác định chiến lược trị liệu nào là hiệu quả trong việc cải thiện sự thực hiện chức năng động tác.

Sự nổi lên của những ngành tri thức quan trọng trong một lĩnh vực rộng lớn có thể được gọi là khoa học động tác cung cấp một cơ hội để rà soát lại những khái niệm lý thuyết nằm dưới những phương pháp truyền thống thường được sử dụng ngày nay và kỹ thuật điều trị được áp dụng (Gordon 1987; Shepherd 1987). Khoa học động tác bao gồm những lĩnh vực của khoa học có liên quan đến:

1 Chuyển động học và vận động học của sự thực hiện động tác ở người (sinh cơ học).

2 Cơ hoạt động thế nào và làm thế nào chúng thích nghi với sự bất động và với những hạn chế do môi trường bên ngoài (sinh cơ)

3 Con người học kiểm soát vận động như thế nào và thủ đắc được những kỹ năng trong những hoạt động vận động đặc thù như thế nào (việc học vận động).

4 Những đòi hỏi chú ý của hành động và mối liên quan giữa ý định và hành động (tâm lý học nhận thức).

5 Mối liên quan giữa môi trường với hành vi (sinh thái học con người hay tâm lý học hoàn cảnh) (Carr và Shepherd 1987).

Rất có thể là những phương pháp mới của việc điều trị, vốn dựa nhiều trên khái niệm huấn luyện theo nhiệm vụ và hoàn cảnh đặc thù của sự kiểm soát vận động hơn là việc trị liệu, và được phát triển trên những khái niệm lý thuyết và những dữ liệu của những khám phá hiện đại ở những ngành khoa học có liên quan đến động tác của con người, thì có lẽ có hiệu quả hơn trong việc tối ưu hóa sự thực hiện động tác chức năng ở trẻ bị bại não. Nói cách khác, việc gia tăng chú trọng vào nghiên cứu khoa học trong những nghiên cứu sự thực hiện động tác ở các hoạt động chức năng ‘tự nhiên’ ở người cho phép các nhà khoa học trên lâm sàng phát triển và kiểm tra những giả thiết có liên quan đến những vấn đề trên lâm sàng. Có những chứng cứ ở người lớn sau đột quỵ là việc huấn luyện những hoạt động đặc thù được phát triển trên những giả thiết có liên quan đến sự kiểm soát vận động thì có một tác động tích cực lên cả cơ chế sinh cơ học của một hành động đặc thù (Ada và Westwood 1992; Malouin và cộng sự 1992) và lên những kết quả thuộc chức năng đo lường được trên thang lượng giá (Dean và Mackey, 1992). Ở trẻ bị bại não, cường độ của việc tập vật lý trị liệu, bao gồm cường độ tập của những hành động đặc thù, đã cho thấy là có một kết quả tích cực (Bower và McLellan 1990). Trong tương lai, sự phát triển và lượng giá có hệ thống của những công cụ phản hồi và những hệ thống tạo thuận cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tự tập luyện sẽ có ý nghĩa là sẽ có nhiều trẻ nhỏ có thể có cơ hội để đạt được một lượng tối ưu số lần lặp lại một động tác được yêu cầu, như thế thì nâng cao được cả sự kiểm soát vận động và sức mạnh và tạo thuận cho sự phát triển một số kỹ năng. Những tiến bộ về kỹ thuật và lý thuyết cũng cung cấp cơ hội để đo lường sự thực hiện động tác và mức thể lực như là những dấu chỉ cho thấy tác động của sự điều trị.

Có hai khám phá lớn ở nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực phát triển vận động có lẽ là kết quả của một cái nhìn mới vào những phương pháp vật lý trị liệu (xem Chương 2). Những nghiên cứu trên những nhóm dân tộc khác nhau hé lộ rằng tác động của những tin tưởng khi nuôi dạy trẻ và sự thực hành tin tưởng đó lên sự phát triển vận động, khiến dấy lên những câu hỏi thú vị về những tác động lên sự thực hiện động tác của trẻ do những thành kiến của người lớn về hoạt động vận động nào đó. Thêm vào đó, những nghiên cứu sinh cơ học cho thấy là mẫu vận động cơ bản hàng ngày như đi bộ và với tay đã hiện diện ở trẻ bình thường lúc mới sinh. Liệu những mẫu cơ bản này có ở trẻ nhỏ bị bại não hay không thì cần có sự khảo sát, vì sự hiện diện hay vắng mặt của những mẫu này lúc mới sinh có thể do có trục trặc ở giai đoạn thai kỳ lúc tổn thương hoặc sự phát triển bất thường có thể xảy ra.

Chương này dựa trên quan điểm là có ba mục tiêu chính cho người vật lý trị liệu hoạt động trong lĩnh vực nhi khoa. Thứ nhất là phát triển một sự hiểu biết, về sinh cơ học, cơ bắp, thần kinh và những mức độ hành vi của những vấn đề trẻ gặp phải, những điều đó ảnh hưởng như thế nào đến trẻ và gia đình trẻ, và hiểu càng nhiều càng tốt về những nguyên nhân thuộc sinh lý, sinh cơ học và hành vi. Thứ hai là vạch kế hoạch và lượng giá một chương trình huấn luyện, cả chương trình có giám sát và không giám sát, là điều vốn sẽ giúp ích trẻ trong việc phát triển sự thực hiện động tác vận động có hiệu quả trong những hoạt động thiết yếu hàng ngày. Điều thứ ba là lượng giá một cách có hệ thống những tác động của việc huấn luyện bằng cách đo lường sự thực hiện động tác của trẻ trong những nhiệm vụ chức năng.

(còn tiếp)

About Mộng Chè

Biết nói gì đây ta, tui sao thì các bạn cũng đã quá rõ rồi. Còn phần nào về tui mà các bạn hông rõ thì chính tui cũng hông rõ nốt :))
This entry was posted in Bại não and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s